Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG

TỈNH LONG AN

Bản án số: 56/2024/DS-ST

Ngày: 11-9-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

———————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

———————————————

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thuần;
  2. Ông Nguyễn Văn Lên.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05 và 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 167/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; theo Quyết đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phiên tòa số 60/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024; giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967; địa chỉ: Số F, ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
  • - Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1967.
    2. Bà Võ Thị Kim C1, sinh năm 1967.
  • Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1966; địa chỉ: Số F, ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967; địa chỉ: Số F, ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

(Theo Văn bản ủy quyền chứng thực số 91 ngày 01/8/2024 của Chủ tịch UBND xã T, thị xã K, tỉnh Long An.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 29/6/2023 và quá trình giải quyết nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Vào năm 2015, ông Nguyễn Văn Q mua của vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 thửa đất số 744, diện tích 5.282m², tờ bản đồ số 10, loại đất LUC, tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Ông Q đã trả đủ tiền và ông C, bà C1 đã giao thửa đất số 744 cho ông Q quản lý, sử dụng từ năm 2015 và ông Q được UBND thị xã K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 28/9/20215.

Đến tháng 10/2023, ông Q phát hiện mất cột mốc nên đo đạc lại thì mới biết phần đất của ông Q bị ông C và bà C1 lấn chiếm khoảng 370m². Sau đó, ông Q có yêu cầu ông C và bà Chi trả lại đất nhưng ông C, bà C1 không đồng ý.

Ông Q khởi kiện ông C và bà C1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C và bà Chi T lại một phần thửa đất số 744, tờ bản đồ số 10, loại đất LUC, có diện tích 370m², tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

Bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 đã được Tòa án thông báo các văn bản tố tụng nhưng đương sự không giao nộp văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V đã được Tòa án thông báo các văn bản tố tụng nhưng đương sự không giao nộp văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mở các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị V và các bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 đã thỏa thuận xác định phần đất tranh chấp 1, có diện tích 157,2m² (một phần thửa số 744) thuộc quyền sử dụng của ông Q và phần đất tranh chấp 2, có diện tích 400m² (một phần thửa đất số 388) thuộc quyền sử dụng của ông C và bà C1. Ông C và bà C1 đồng ý giao trả lại phần đất tranh chấp 1 cho ông Q quản lý, sử dụng.

Ông Q đề nghị mỗi bên phải chịu ½ tiền chi phí tố tụng và ½ tiền án phí phát sinh nhưng ông C và bà C1 không đồng ý nên ông Q đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường phát biểu như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự có mặt đã tuân thủ pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q và bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 đã thống nhất thỏa thuận phần đất tranh chấp 1 thuộc quyền sử dụng của ông Q và phần đất tranh chấp 2 thuộc quyền sử dụng của ông C, bà C1 theo Mảnh trích đo địa chính số: 81-2024 ngày 12/62024 của Công ty TNHH Đ. Như vậy, các bên đã thỏa thuận được với nhau về nội dung tranh chấp trong vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q khởi kiện các bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 yêu cầu trả lại phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa số 774, tờ bản đồ số 10, loại đất LUC, tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về phạm vi giải quyết: Nguyên đơn ông Q khởi kiện bị đơn ông C, bà C1 yêu cầu trả lại đất tranh chấp; bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.

[3] Về quyền sử dụng đất tranh chấp: Phần đất tranh chấp do các đương sự xác định thể hiện theo Mảnh đo địa chính số: 81-2024 ngày 12/6/22024 của Công ty TNHH Đ; được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 14/6/2024, tại vị trí tranh chấp số 1, thuộc một phần thửa số: 744, có diện tích: 157,2m² và vị trí tranh chấp 2, thuộc một phần thửa số: 388, có diện tích: 400,1m²; cùng tờ bản đồ số 10, cùng loại đất LUC, tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Các phần đất tranh chấp do ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 quản lý, sử dụng. Theo Chứng thư thẩm định giá số 040/2024/996.CNLA ngày 19/7/2024 của Công ty Cổ phần T1 thì phần đất tại vị tranh chấp 1 có giá trị là 12.418.800 đồng và vị trí tranh chấp 2 có giá trị là 32.318.900 đồng; tổng cộng là 44.738.000 đồng.

[4] Về sự thỏa thuận của các đương sự: Tại phiên tòa, các đương sự thống nhất thỏa thuận xác định phần đất tại vị trí tranh chấp 1, có diện tích 157,2m², thuộc một phần thửa số 744 thuộc quyền sử dụng của ông Q và phần đất tại vị trí tranh chấp 2, có diện tích 400,1m², thuộc một phần thửa đất số 388 thuộc quyền sử dụng của ông C, bà C1. Ông C, bà C1 đồng ý trả lại phần đất tranh chấp 1 cho ông Q quản lý, sử dụng. Như vậy, các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết nội dung tranh chấp và việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng vụ án là 45.864.000 đồng. Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết nội dung tranh chấp trong vụ án nên mỗi bên đương sự phải chịu ½ tiền chi phí tố tụng là phù hợp quy định pháp luật. Nguyên đơn ông Q đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 45.864.000 đồng, đã chi phí hết nên các bị đơn ông C và bà C1 phải có nghĩa vụ liên đới nộp 22.932.000 đồng để trả lại cho ông Q tiền tạm ứng chi phí tố tụng.

[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết nội dung tranh chấp nên mỗi bên phải chịu ½ tiền án phí sơ thẩm là 1.118.450 đồng.

[7] Như đã phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận; nội dung thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết nội dung tranh chấp là phù hợp quy định pháp luật; ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 5; khoản 9 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 157, 165, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 26, 31 của Luật Đất đai năm 2024.

Tuyên xử;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Q đối với ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị Kim C1.

Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Văn Q với ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị Kim C1 về quyền sử dụng đất tại một phần thửa số 744 và thửa số 388, tờ bản đồ số 10, loại đất LUC, tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An như sau:

Ông Nguyễn Văn Q có quyền sử dụng một phần thửa đất số 744, tờ bản đồ số 10, loại đất LUC, có diện tích 157,2m², (vị trí tranh chấp 1) tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An. Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị Kim C1 có nghĩa vụ giao trả 157,2m² đất nêu trên cho ông Nguyễn Văn Q quản lý, sử dụng.

Ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị Kim C1 có quyền sử dụng một phần thửa đất số 388, tờ bản đồ số 10, loại đất LUC, có diện tích 400,1m², (vị trí tranh chấp 2); tại ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

Vị trí, kích thước, hình thể của thửa đất số 744, vị trí tranh chấp 1 và 2 được xác định theo Mảnh đo địa chính số 81-2024 ngày 12/6/22024 của Công ty TNHH Đ; được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 14/6/2024. (đính kèm)

Ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với cơ quan tài nguyên và môi trường, cơ quan đăng ký đất đai có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký biến động, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của mình theo quy định của pháp luật đất đai.

  1. Về chi phí tố tụng:

Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 22.932.000 đồng; đã nộp xong.

Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 phải liên đới nộp 22.932.000 đồng để trả lại cho ông Nguyễn Văn Q tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 22.932.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí sơ thẩm:

Buộc ông Nguyễn Văn Q phải chịu 1.118.450 đồng án phí dân sự sơ thẩm; chuyển 740.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu số: 0003076 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An sang thi hành án phí. Buộc ông Nguyễn Văn Q phải nộp 378.450 đồng tiền án phí sơ thẩm còn thiếu.

Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Võ Thị Kim C1 phải liên đới nộp 1.118.450 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  1. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An.
  • - VKSND thị xã Kiến Tường;
  • - Chi cục THADS thị xã Kiến Tường;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 56/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q tranh chấp quyền sử dụng đất với Nguyễn Văn C, Võ Thị Kim C1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger