Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 56/2024/DS-ST

Ngày: 02-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Nguyệt Mai
  2. Ông Lâm Văn Vô

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 215/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-DS ngày 21/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023/QĐST-DS ngày 10/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ trụ sở: Số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D– Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành N

Địa chỉ: Số B, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

(Theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 và số 2198/2024/UQ-TGĐ ngày 02/5/2024)

(Vắng mặt – Đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Phan Ngọc H C sinh năm 1980

Địa chỉ: C K, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 25/10/2023 và tại các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành được phiên hòa giải, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Phạm Trường Tông Nguyễn Thành N1 bày:

Ngày 17/01/2017, ông Phan Ngọc Huy C ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S(gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Phan Ngọc H CNgân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân. Loại thẻ tín dụng ông C đề nghị và được Ngân hàng cấp là thẻ Vmã số xác định chủ thẻ là 472074-6955; lãi suất là 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn).

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Phan Ngọc H Cđã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 164.782.245 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Phan Ngọc H Cđã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 166.594.647 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Phan Ngọc Huy C2 không có thiện chí trả nợ. Do ông Phan Ngọc Huy C3 phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, ngày 01/11/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 26.172.042 đồng làm nợ gốc và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 26.172.042 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (2.6% * 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Phan Ngọc H Cyêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ tuy nhiên ông Phan Ngọc HCvẫn chưa thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Tính đến ngày 17/7/2023 (thời điểm theo đơn khởi kiện), ông Phan Ngọc Huy C4 nợ số tiền là 47.403.018 đồng, trong đó:

  • Nợ gốc: 26.172.042 đồng
  • Lãi quá hạn: 21.230.976 đồng

Tính đến ngày 02/5/2024 (thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm), ông Phan Ngọc Huy C4 nợ các khoản sau:

  • Nợ gốc: 26.172.042 đồng
  • Lãi quá hạn: 31.097.936 đồng

Tổng cộng: 57.269.978 đồng

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S kiện yêu cầu giải quyết các vấn đề sau:

  1. Ông Phan Ngọc H Cphải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/5/2024 là 57.269.978 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng), trong đó:
    • Nợ gốc: 26.172.042 đồng
    • Lãi quá hạn: 31.097.936 đồng
  2. Ông Phan Ngọc H Ccó trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 03/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Thẻ tín dụng của ông Phan Ngọc H C là thẻ tín dụng cá nhân, là nợ riêng của ông Phan Ngọc HC. Do đó, Ngân hàng xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông C có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, không liên quan tới cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác.

Bị đơn ông Phan Ngọc HC trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 5 đã thực hiện các thủ tục tố tụng triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia tố tụng tại Tòa án theo quy định pháp luật để giải quyết vụ án nhưng bị đơn không có mặt theo triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến, phản hồi; không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì do đó Tòa án không thu thập được ý kiến, yêu cầu của bị đơn.

Tại phiên tòa,

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn đã không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ có cơ sở để xác định ngày 17/01/2017 ông Phan Ngọc Huy C ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phầS SHợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, hạn mức tín dụng là 25.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,6%/tháng lãi suất trong hạn. Qúa trình sử dụng ông C5 vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 01/11/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với số tiền 26.172.042 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật Tổ chức tín dụng do đó việc Ngân hàng cho ông Csử dụng thẻ tín dụng, thỏa thuận lãi suất là đúng theo quy định. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Phan Ngọc Huy C6 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ssố tiền chưa thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm, ngoài ra ông C4 có trách nhiệm thanh toán khoãn lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng, thanh toán hết một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật; bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Phan Ngọc Huy C7 (sau đây viết tắt là ông C6 số tiền còn nợ phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng của bị đơn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S(sau đây gọi là bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại địa chỉ C K, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về người tham gia tố tụng:

Nguời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có yêu cầu phản tố và không có người đại diện tham gia phiên tòa do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh:

Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia các phiên họp, phiên xét xử nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình, cũng như không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ được quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ do nguyên đơn xuất trình và chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án.

[1.4] Về áp dụng pháp luật để giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện ngày 25/10/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay sau khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 02/5/2024 là 57.269.978 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng) trong đó: Nợ gốc là 26.172.042 đồng (hai mươi sáu triệu một trăm bảy mươi hai nghìn không trăm bốn mươi hai đồng), lãi quá hạn là 31.097.936 đồng (ba mươi mốt triệu không trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm ba mươi sáu đồng) và đề nghị bị đơn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 03/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 do bị đơn đề nghị và được Ngân hàng Sphê duyệt, các tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của khách hàng Phan Ngọc H C có cơ sở xác định bị đơn đã đề nghị nguyên đơn cấp thẻ tín dụng và được nguyên đơn chấp thuận phát hành và cấp cho bị đơn sử dụng thẻ tín dụng loại VS payWave Cre Glassic, mã số xác định chủ thẻ của bị đơn là 472074-6955, hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn).

Căn cứ cam kết của bị đơn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng nêu trên có nội dung “bằng việc ký vào mẫu đơn này, tôi/chúng tôi xác định rằng tôi/chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện của thẻ tín dụng Slchi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Slcùng với mẫu đơn này, tạo nên một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lý giữa chính tôi/chúng tôi và Đơn vị Phát Hành Thẻ cho việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng S1”, như vậy việc cấp tín dụng của Ngân hàng S1 bị đơn và việc sử dụng dịch vụ tín dụng dưới hình thức thẻ tín dụng của bị đơn do Ngân hàng S2 cấp được điều chỉnh bởi bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.

[2.2] Về việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bị đơn: Căn cứ các Tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp, thể hiện quá trình sử dụng thẻ tín dụng của bị đơn từ ngày kích hoạt thẻ, bị đơn đã thực hiện các giao dịch và thanh toán cho Ngân hàng đến tháng 8/2021 thì ngưng thanh toán. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 và Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên đến ngày 01/11/2021, Ngân hàng Sđã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Số dư nợ còn thiếu tại thời điểm chuyển nợ quá hạn được xác định là 26.172.042 đồng, được chuyển thành nợ gốc và áp dụng lãi suất nợ quá hạn.

Như vậy, việc nguyên đơn tính đến ngày 02/5/2024, bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 57.269.978 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 26.172.042 đồng (hai mươi sáu triệu một trăm bảy mươi hai nghìn không trăm bốn mươi hai đồng); lãi quá hạn: 31.097.936 đồng (ba mươi mốt triệu không trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm ba mươi sáu đồng) là phù hợp.

[2.3] Về nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:

Căn cứ cam kết về nghĩa vụ thanh toán của người đề nghị cấp tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 có nội dung “Tôi/chúng tôi chịu trách nhiệm đối với những nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng mà tôi/chúng tôi đã được cấp” và các quy định theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán cho nguyên đơn. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ theo đúng thời hạn đã thỏa thuận của bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại Điều 466 Bộ luật Dân sự “bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ chưa thanh toán là có cơ sở.

Về số tiền mà bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn: Theo các bảng tóm tắt sao kê tài khoản Phan Ngọc H C, số thẻ: 472074-6955 - thể hiện tính đến ngày 02/5/2024, bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 57.269.978 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 26.172.042 đồng (hai mươi sáu triệu một trăm bảy mươi hai nghìn không trăm bốn mươi hai đồng); lãi quá hạn: 31.097.936 đồng (ba mươi mốt triệu không trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm ba mươi sáu đồng). Việc nguyên đơn xác định số nợ gốc và lãi như nêu trên là đúng theo các nội dung đã thỏa thuận của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 và quy định của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên có cơ sở và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngoài ra, nguyên đơn yêu cầu kể từ ngày 03/5/2024, bị đơn vẫn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ là phù hợp.

Nguyên đơn xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn phát sinh từ việc tiêu dùng cá nhân qua thẻ tín dụng được cấp, nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn có nghĩa vụ trả nợ mà không yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về thời hạn trả nợ: Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ tháng 8/2021 đến nay, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần ngay khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật, số tiền án phí là 2.863.499 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng).

Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.185.076 đồng (Một triệu một trăm tám mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi sáu đồng).

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 102, Điều 144, Điều 147, Điều 179, Điều 180, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 463, 465, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Áp dụng Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
    1. Buộc ông Phan Ngọc H C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/5/2024 là 57.269.978 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 26.172.042 đồng (hai mươi sáu triệu một trăm bảy mươi hai nghìn không trăm bốn mươi hai đồng); lãi quá hạn: 31.097.936 đồng (ba mươi mốt triệu không trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm ba mươi sáu đồng).
    2. Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

      Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    3. Kể từ ngày 03/5/2024, ông Phan Ngọc H C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/01/2017 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi thi hành án xong.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Phan Ngọc Huy C8 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.863.499 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng). Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Hlại số tiền tạm ứng án phí do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nộp là 1.185.076 (Một triệu một trăm tám mươi tám lăm nghìn không trăm bảy mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010911 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 56/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger