Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/DS-PT

Ngày 24 - 4 - 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Lực

Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Kim Châu
Ông Huỳnh Đắc Đương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28/3/2024 và ngày 24/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 07/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải bị kháng cáo.

Theo ết"Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 21/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Dương Văn P, sinh năm 1972; địa chỉ ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960; địa chỉ ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Phi H1: Ông Huỳnh Trung H2, sinh năm 1967; địa chỉ khóm A, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 11/12/2023, có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Thị O, sinh năm 1970; địa chỉ ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị O: Ông Huỳnh Trung H2, sinh năm 1967; địa chỉ khóm A, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 11/12/2023).

  1. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1997 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Chị Huỳnh Thanh T, sinh năm 1980 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 7 năm 2020, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 02 tháng 10 năm 2023 các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Dương Văn P trình bày:

Ông có thửa đất 846, tờ bản đồ số 7, diện tích 18.907m², tọa lạc ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Ngày 26/12/2006 ông được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử đất.

Nguồn gốc đất nêu trên do ông mua của bà Trần Thị Ngọc M vào năm 2006, khi mua đất có cắm trụ ranh. Đến năm 2020 thì ông H nhổ trụ ranh và cặm trụ đá lấn chiếm qua phần đất của ông theo kết quả đo đạc có diện tích 377,9m². Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H tháo dỡ các trụ ranh đã cặm, giao trả cho ông diện tích đất 377,9m² thuộc thửa 846, tờ bản đồ số 7 tọa lạc ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

*Bị đơn ông Nguyễn Văn H và người đại diện hợp pháp trình bày:

Ông H có thửa đất 272 giáp với thửa đất 846 của ông P. Ngày 24/01/2018 ông H được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử đất diện tích đất 44.142,0m².

Ông P cho rằng ông lấn ranh là không đúng, vì đất ai người đó sử dụng. Việc Ủy ban nhân dân huyện D cấp phần đất tranh chấp theo kết quả đo đạc có diện tích 377,9m² cho ông P là đất của ông. Nay yêu cầu Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P diện tích 377,9m² và công nhận phần đất này cho ông.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn: bà Huỳnh Thanh T có lời khai thống nhất như nguyên đơn.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn: bà Lê Thị O, anh Nguyễn Văn D, anh Nguyễn Văn V có lời khai thống nhất như bị đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Duyên Hải đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn P yêu cầu hộ ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ tháo dở các trụ ranh đã cặm trên phần diện tích đất 377,9m² trong tổng diện tích 18.907m² thửa số 846, tờ bản đồ số 7 đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Buộc hộ ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ tháo dỡ các trụ ranh đã cặm trên phần diện tích đất 377,9m² trong tổng diện tích 18.907m² thửa số 846, tờ bản đồ số 7 đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh trả lại hiện trạng cho ông Dương Văn P.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/12/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho ông phần diện tích đất 377,9m² nằm một phần trong tổng diện tích 18.907m² thửa số 846, tờ bản đồ số 7 đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh vì đất này cha ông đã tạo lập bao bờ từ năm 1975 và sử dụng ổn định liên tục cho đến nay. Đồng thời ông H yêu cầu xem xét miễn phần án phí cho ông do ông thuộc diện người cao tuổi.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Dương Văn P và ông Huỳnh Trung H2 là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn H thống nhất thỏa thuận như sau: Căn cứ vào sơ đồ khu đất gửi kèm theo Công văn số 179/CV-CNHDH ngày 25/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D thì phần đất tranh chấp ở hướng Bắc có chiều ngang 2,2m lấy ranh ở giữa, hướng Nam có chiều ngang 5,6m + 0,6m = 6,2m lấy ranh ở giữa, vị trí ranh kể từ hướng Bắc kéo thẳng đến vị trí ranh ở hướng N. Về chi phí tố tụng ông H2 thống nhất ông H chịu toàn bộ.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trên cơ sở sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm và kết quả cung cấp số liệu của Văn phòng đăng ký đất đai huyện D theo Công văn số 239/CNHDH ngày 22/4/2024 kèm theo sơ đồ khu đất. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, kết quả thỏa thuận đã được cơ quan chuyên môn đo vẽ tại công văn nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự và sửa án về phần án phí theo hướng miễn án phí cho bị đơn ông Nguyễn Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Dương Văn P khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H tháo dở trụ ranh đã cặm trên phần diện tích 377,9m² trong tổng diện tích 18.907m², thửa số 846, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Đây là quan hệ tranh chấp về quyền sử dụng đất (ranh đất) theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải. Với yêu cầu khởi kiện của ông P, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp đúng bản chất vụ án, đưa người tham gia tố tụng đầy đủ. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn H còn trong hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Dương Văn P và ông Huỳnh Trung H2 là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn H thống nhất thỏa thuận căn cứ vào sơ đồ khu đất gửi kèm theo Công văn số 179/CV-CNHDH ngày 25/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D thì phần đất tranh chấp ở hướng Bắc có chiều ngang 2,2m lấy ranh ở giữa, hướng Nam có chiều ngang 5,6m+0,6m= 6,2m lấy ranh ở giữa, ranh đất giữa thửa đất 846 của ông P và thửa đất 272 của ông H là đường thẳng được tính từ vị trí trụ ranh đã thỏa thuận ở hướng Bắc đến vị trí trụ ranh ở hướng N. Thỏa thuận này được Hội đồng xét xử phúc thẩm tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu cơ quan chuyên môn phân ranh theo như thỏa thuận của các bên. Tại Công văn Công văn số 239/CNHDH ngày 22/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D đã xác định phần đất tranh chấp giữa các bên có diện tích chung bằng 468,8m². Phần đất ông P được quyền sử dụng có diện tích đất 236,6m² thuộc phần A'+B'+C' theo Sơ đồ khi đất kèm theo Công văn số 239/CNHDH ngày 22/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Phần đất ông H được quyền sử dụng có diện tích 232,2m² thuộc phần A’+B'+C’+D theo Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 239/CNHDH ngày 22/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Về chi phí tố tụng tổng số tiền 2.905.000 đồng ông H3 thống nhất ông H chịu toàn bộ.

[3] Xét thấy thỏa thuận của các đương sự như trên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên sửa án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.

4[ ] Về án phí: Đây là vụ án không có giá ngạch, ông P là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí, Tòa án cấp sơ thẩm tính loại án phí không có giá ngạch và buộc ông H phải chịu là không đúng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông H về nội dung này, sửa án phí dân sự sơ thẩm theo hướng ông H không phải chịu như ý kiến phát biểu của K sat viên. Về án phí dân sự phúc thẩm ông H không phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Tuyên xử:

  1. Về đất tranh chấp:

    Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn ông Dương Văn P và ông Huỳnh Trung H2 là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Phi H1 như sau: Phần đất tranh chấp ở hướng Bắc có chiều ngang 2,2m lấy ranh ở giữa, hướng Nam có chiều ngang 5,6m + 0,6m = 6,2m lấy ranh ở giữa, ranh đất giữa thửa đất 846 của ông P và thửa đất 272 của ông H1 là đường thẳng được tính từ vị trí trụ ranh đã thỏa thuận ở hướng Bắc đến vị trí trụ ranh ở hướng N.

    Phần đất ông Dương Văn P được quyền sử dụng có diện tích đất 236,6m² có tứ cận như sau:

    • - Hướng Đông giáp thửa 846, có chiều dài 104,9m;
    • - Hướng Tây giáp thửa 846, có chiều dài 106,9m;
    • - Hướng Nam giáp thửa 848, có chiều dài 3,1m;
    • - Hướng Bắc giáp thửa 847, có chiều dài 1,1m.

    (Thuộc phần A'+B'+C' theo Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 239/CNHDH ngày 22/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D).

    Phần đất ông Nguyễn Phi H1 được quyền sử dụng có diện tích 232,2m² có tứ cận như sau:

    • - Hướng Đông giáp thửa 272, có chiều dài 109,3m;
    • - Hướng Tây giáp thửa 846, có chiều dài 104,9m;
    • - Hướng Nam giáp thửa 848, có chiều dài 3,1m;
    • - Hướng Bắc giáp thửa 847, có chiều dài 1,1m.

    (Thuộc phần A’+B'+C''+D theo Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 239/CNHDH ngày 22/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D).

  2. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí tố tụng là 2.905.000đ (hai triệu chín trăm năm lẻ năm ngàn đồng), ông Dương Văn P đã nộp tạm ứng số tiền 2.905.000đ (hai triệu chín trăm năm lẻ năm ngàn đồng), ông Nguyễn Văn H tự nguyện chịu toàn bộ, nên Cơ quan thi hành án dân sự thu của ông Nguyễn Văn H số tiền 2.905.000đ (hai triệu chín trăm năm lẻ năm ngàn đồng) để hoàn trả lại cho ông Dương Văn P.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Ông Dương Văn P không phải chịu. Ông Nguyễn Văn H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn.
  4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Duyên Hải;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện Duyên Hải;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 56/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/c QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger