Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HSST

Ngày 26-12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

2. Bà Nguyễn Thị Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú, Thư ký Tòa án Tòa án nhân

dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành C, sinh ngày 06/8/1984 tại tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Y; con bà Đào Thị D; có vợ 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Bản án số 286/2006/ HSST ngày 21/12/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Xử phạt C 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2006. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2008. Tiền án phí hình sự 50.000đ nộp xong ngày 13/3/2007 tại biên lai số 0030555.
  • - Quyết định số 1058/QĐ-UBND ngày 12/5/2011 của UBND huyện P, Quyết định v/v: “Đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Thời gian chấp hành 24 tháng tính từ ngày đương sự bắt đầu chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của tỉnh Phú Thọ. Ngày 28/10/2013 C chấp hành xong trở về địa phương.
  • - Quyết định số 3473/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 của UBND huyện P, Quyết định v/v: “Áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy”. Thời gian quản lý sau cai nghiện 24 tháng tính từ ngày 28/10/2013.

1

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 45 phút, ngày 27/8/2023 tại khu vực đường dân sinh thuộc khu C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an huyện P phát hiện Nguyễn Thành C, sinh năm: 1984, thường trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngày 28/08/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành C tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh P giám định chất bột, cục màu trắng bên trong túi nilon thu giữ của Nguyễn Thành C. Tại Bản kết luận giám định số 1132/KL-KTHS ngày 31/8/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh P kết luận: Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 (một) túi nilon gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 2,909 gam, loại Heroin (Heroine) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành C khai nhận: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 27/8/2023, C điều khiển xe mô tô biển số 29N1-724.40 đi từ nhà đến khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để chơi. Khi đi C cầm theo 01 (một) túi ma túy Heroine có đặc điểm là túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng để ở túi quần phía trước bên phải C đang mặc với mục đích để sử dụng. Khi đến khu vực đường dân sinh thuộc khu C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác Công an huyện P kiểm tra phát hiện.

Về nguồn gốc số ma túy C khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 27/8/2023 C một mình điều khiển xe mô tô biển số 29N1-724.40 đi thành phố P, Thái Nguyên tìm mua ma túy Heroine. Tại đây, C mua được của một người nam giới không quen biết có dáng người gầy giống người nghiện đứng ở ven đường A (một) túi ma túy Heroine có đặc điểm là 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có chứa chất bột cục màu trắng với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, C mang ma túy về nhà rồi một mình lấy một phần ma túy (không xác định trọng lượng) vừa mua được sử dụng cho bản thân bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể, số ma túy còn lại đã bị cơ quan Công an thu giữ như đã nêu ở trên.

Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Nguyễn Thành C bằng que thử chất ma túy, kết quả C dương tính với chất ma túy Heroin;

Tại cơ quan điều tra Công an Huyện P, Nguyễn Thành C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của Nguyễn Thành C phù hợp với vật chứng thu giữ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

2

Vật chứng, đồ vật thu giữ trong vụ án:

  • - 01 (Một) bì niêm phong số 1132/KL-KTHS của phòng KTHS Công an tỉnh P, bên trong có chứa 2,357 gam chất cục bột màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 106 màu đen có số seril: 3528.8210.0732.010, seri2: 3528.8210.1732.019 lắp sim số 0789.053.398 thu giữ là tài sản riêng của C không liên quan đến việc mua bán ma túy.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 29N1-724.40, có số khung: RLHJA3910KY102143, số máy: JA39E0958531 trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì, thu giữ của C. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của Đinh Công Ngọc A, ngày 13/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ,trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Đinh Công Ngọc A.

Về điều kiện kinh tế:

Bị cáo Nguyễn Thành C trước khi bị bắt sống cùng mẹ đẻ tại ngôi nhà cấp 4 diện tích 50m² trên diện tích đất 218m2 thuộc thửa đất số 228, tờ bản đồ số 20, tại khu 10 xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Đất đứng tên bà Đào Thị D (mẹ đẻ C).

Bị cáo Chung không có tài sản riêng gì, ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

Nguyễn Thành C là lao động tự do thu nhập không ổn định.

Thu nhập bình quân của một người tại địa bàn xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ năm 2023 là 42.000.000đ/1 người/1năm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Tại bản Cáo trạng số: 50/CT-VKSPN ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thành C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C từ 18 (Mười tám) tháng đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2023.

Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 106 màu đen có số seril: 3528.8210.0732.010, seri2: 3528.8210.1732.019 01, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thành C.

Về xử lý vật chứng:

3

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong số 1132/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh P bên trong có chứa 2,357 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim điện thoại sim số 0789.053.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo là vật không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thành C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 20 giờ 45 phút, ngày 27/8/2023 tại khu vực đường dân sinh thuộc khu C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Thành C đã có hành vi tàng trữ 2,909 gam ma túy, loại Heroin (H), với mục đích để sử dụng, bị Tổ công tác Công an huyện P phát hiện, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thành C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

4

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình.

Về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội: Bị cáo là người thành niên nhưng do nghiện ma túy nên đã đi tìm ma tuý để sử dụng cho bản thân.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã bị Tòa án xét xử tuy đã được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo có tài sản là 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 106 màu đen có số seril: 3528.8210.0732.010, seri2: 3528.8210.1732.019 01, đã qua sử dụng; xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại là tài sản của bị cáo là phù hợp.

[5] Về vật chứng của vụ án:

- Ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong số 1132/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh P bên trong có chứa 2,357 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định;

- Đối với: 01 sim điện thoại sim số 0789.053.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác:

5

- Về nguồn gốc chiếc xe mô tô biển số 29N1-724.40 C khai mua của 01 (một) người nam giới không quen biết từ năm 2019 với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) ở khu vực ngã ba P thuộc quận H - TP . Hà Nội. Khi mua chỉ nói miệng với nhau không làm giấy tờ mua bán vì xe người bán đã làm mất giấy tờ nên bán rẻ. C hoàn toàn không biết chiếc xe mô tô trên là do trộm cắp mà có. Việc giao dịch mua bán xảy ra ở ngoài đường nên chỉ có C và người nam giới đó biết, C không nhớ đặc điểm của người nam giới bán xe đó. Nay Cơ quan điều tra đã tra cứu và xác định chiếc xe mô tô trên là của Đinh Công Ngọc A, sinh năm 1999; Nơi thường trú: Thôn C, xã C, huyện G, TP .; chiếc xe máy trên Đinh Công Ngọc A để ở sân đá bóng của trường Đại học N; thuộc thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội, bị mất vào khoảng tháng 11/2019. Khi bị mất Ngọc A không trình báo về việc bị trộm cắp chiếc xe máy trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã xác minh tại Công an xã C, Công an thị trấn T và Cơ quan CSĐT Công an huyện G, thành phố Hà nội xác định anh Đinh Công Ngọc A không trình báo về việc bị mất chiếc xe nên không có căn cứ xác định xe mô tô trên bị trộm cắp. Quá trình điều tra C đồng ý trả xe cho anh Định Công Ngọc A1 không yêu cầu anh Ngọc A1 phải trả cho C tiền mua bán chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại xe mô tô trên cho anh A1 là phù hợp.

- Về nguồn gốc ma túy: Khoảng 14 giờ ngày 27/8/2023 C một mình điều khiển xe mô tô biển số 29N1-724.40 đi thành phố P, Thái Nguyên tìm mua ma túy Heroine. Tại đây, C mua được của một người nam giới không quen biết có dáng người gầy giống người nghiện đứng ở ven đường A (một) túi ma túy Heroine có đặc điểm là 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có chứa chất bột cục màu trắng với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng);

Đối với người đàn ông C khai mua ma túy ở khu vực thành phố P, Thái nguyên và người nam giới bán xe mô tô cho C ở khu vực ngã ba P thuộc quận H, thành phố Hà Nội, C không biết họ tên và địa chỉ cụ thể của những người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để triệu tập xác minh làm rõ là phù hợp

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

6

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C 19 (Mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2023.

Về hình phạt bổ sung: tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 106 màu đen có số seri1: 3528.8210.0732.010, seri2: 3528.8210.1732.019 01, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thành C.

2. Về vật chứng vụ án:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong số 1132/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh P bên trong có chứa 2,357 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim điện thoại sim số 0789.053.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Thành C.
  • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2023 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh)

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành C 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

.Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo,
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Thanh Huyền

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2023/HSST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 56/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Chung phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger