Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 56/2023/HS-ST

Ngày: 20/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Huỳnh Thị Bích Nhung
  • Ông Trần Ngọc Tuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trí – Thư ký tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

ĐẶNG QUỐC HƯNG, sinh năm: 1996, tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố E, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Quốc H (chết) và bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm: 1979. Có vợ Phạm Thị H1, sinh năm: 1996 (Chưa đăng ký kết hôn) và 01 người con Phan Đặng Quốc V, sinh ngày: 24/9/2022.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 19/9/2018, bị Công an phường V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, với số tiền 200.000 đồng ( chấp hình nộp phạt).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/10/2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Cháu Phan T, sinh năm: 2010. (Có mặt)
  • Đại diện hợp pháp của cháu T: Bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm: 1979. (Mẹ ruột cháu T) (Có mặt)
  • Trú tại: Khu phố E, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • Bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm: 1979. (Có mặt)
  • Trú tại: Khu phố E, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • - Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1994. (Vắng mặt)
  • Trú tại: Thôn C, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 27/10/2023, Tổ tuần tra Công an huyện N phối hợp Công an xã T đang tuần tra trên tuyến đường thuộc thôn T, xã T, huyện N. Thấy Đặng Quốc H3 có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tổ tuần tra yêu cầu H3 dừng xe lại kiểm tra bắt quả tang Đặng Quốc H3 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên tay trái của H3 đang cầm 01 gói nylon được hàn kín 04 đầu bên trong chứa chất kết tinh màu trắng. Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của H3 01 xe mô tô hiệu Wave Alpha màu trắng, biển kiểm soát 85B1-556.91; 01 điện thoại di động hiệu samsung J4+, màu đen bên trong có sim số [...]. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, mời H3 về trụ sở để làm việc.

Quá trình điều tra xác định: Tối ngày 25/10/2023, Đặng Quốc H3 gọi điện thoại cho người tên Q (Chưa xác định nhân thân, lai lịch) ở thành phố P - T hỏi mua 01 tép ma túy với giá 500.000 đồng với mục đích để sử dụng. Q đồng ý bán và hẹn H3 đến khu vực ngã 5 Đ để nhận ma túy và giao tiền nên H3 điều khiển xe mô tô biển số 85B1-556.91 đến điểm hẹn đưa tiền cho Q và nhận 01 tép ma túy rồi đem về nhà ở khu phố E, phường V, thành phố P - T cất giấu. Khoảng 16 giờ ngày 27/10/2023, H3 lấy ma túy rồi điều khiển xe mô tô biển số 85B1-556.91 đi tìm địa điểm sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại kết luận giám định số: 238/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chất kết tinh màu trắng bên trong túi nylon gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4366g (H4 lại mẫu vật còn lại sau giám định là 0,3044g, cùng với bao gói gửi đến giám định).

Cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo Đặng Quốc H3 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H3 từ 18 đến 24 tháng tù.

Bị cáo không tham gia tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và làm kiếm tiền lo cho vợ và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên; Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 27/10/2023, trên tuyến đường thuộc thôn T, xã T, huyện N, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ 0,4366g ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức về hành vi của mình. Lẽ ra, bị cáo phải biết tác hại của việc sử dụng ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác mà pháp luật cấm, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của mình mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có vợ và con nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 phong bì màu trắng, trên phong bì có hình dấu đỏ của phòng K công an tỉnh N cùng chữ ký và họ tên Trần Huy H5, Lê Ngọc T1, Nguyễn Lê Đức N, Phạm Văn P, bên trong có 0,3044g chất ma túy, loại Methamphetamine, cùng với bao gói gửi đến giám định. Đây là mẫu vật còn lại sau giám định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy là có căn cứ.
  • - Đối với 01 xe mô tô hiệu Wave Alpha màu trắng, biển số 85B1-556.91 được H3 sử dụng để đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là của Nguyễn Văn H2 đứng tên chủ sở hữu. Việc H3 mượn xe của H2 đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy H2 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu là phù hợp pháp luật.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu samsung J4+, màu đen, số Sêri số: R58M104EBTW, bên trong có sim số [...] H3 sử dụng để liên lạc mua ma túy.

Quá trình điều tra xác định điện thoại trên là H3 mượn của Phan T (em gái H3), điện thoại trên T được mẹ là bà Nguyễn Thị Bích D mua vào năm 2021 cho T để học online, bà D là chủ sở hữu điện thoại trên. Việc H3 mượn điện thoại của T sử dụng để liên lạc mua ma túy, T và bà D không biết nên Cơ quan điều tra trả lại điện thoại cho chủ sở hữu là bà D là phù hợp pháp luật.

Đối với người tên Q ở thành phố P - T đã bán ma túy cho Đặng Quốc H3, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[5] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quốc H3 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc H3 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 27/10/2023.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng, trên phong bì có hình dấu đỏ của phòng K công an tỉnh N cùng chữ ký và họ tên Trần Huy H5, Lê Ngọc T1, Nguyễn Lê Đức N, Phạm Văn P, bên trong có 0,3044g chất ma túy, loại Methamphetamine theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
  • - Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Bị cáo Đặng Quốc H3 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Hải;
  • - CQCSĐT Công an huyện Ninh Hải;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Hải;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hoàng Hải

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Tuân

Huỳnh Thị Bích Nhung

Lê Hoàng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 56/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Quốc H3 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger