Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 20/10/2023

"V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Ông Nguyễn Trọng Thủy
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 90/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 về "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Dương Thị H - sinh năm 1986
  • Địa chỉ: Phố Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1984
  • Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phố Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
  • Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

Tại phiên tòa vắng mặt cả hai bên đương sự (chị Dương Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Dương Thị H trình bày như sau:

+ Về hôn nhân:

Chị và anh Nguyễn Tiến D xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/01/2013 tại UBND xã Đ, thành phố T. Sau ngày cưới vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là anh D thường xuyên chơi bời, không chịu lo làm ăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Tháng 9 năm 2019 anh D bỏ nhà đi Đài Loan. Từ khi anh D đi Đài Loan thì không quan tâm gì đến vợ con, vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay. Tháng 8 năm 2022 tôi đã từng làm đơn ly hôn nhưng anh D đã níu kéo và nói cho anh 1 cơ hội, nên tôi đã rút đơn về. Nhưng cho đến nay anh D vẫn không thay đổi, vẫn chơi bời, không quan tâm đến vợ con, đến gia đình. Do đó tình cảm của tôi với anh không còn nữa, nên làm đơn xin ly hôn với anh D, đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Về con chung:

Vợ chồng có một con chung là hai cháu sinh đôi: Nguyễn Dương Bình A và Nguyễn Dương Bảo A1 cùng sinh ngày 15/10/2013. Nay ly hôn nguyện vọng của chị xin được nuôi cả hai con chung không yêu cầu anh D cấp dưỡng.

+ Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về về tài sản và công nợ chung riêng: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/9/2023 bà Lê Thị T, sinh năm 1950, trú tại Đ, phố Q, phường Đ, thành phố T trình bày:

  • + Anh D là con đẻ của bà kết hôn với chị H vào năm 2013, có ĐKKH. Sau ngày cưới vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc, đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, sau đó anh D sang Đài Loan làm ăn. Anh D không cho tôi biết địa chỉ cụ thể nơi sinh sống và làm việc bên Đài Loan nên tôi không có để cung cấp cho Tòa án mà mẹ con chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại của chị H vì sau khi anh D đi cho đến nay chị H và các cháu vẫn ở nhà tôi. Từ khi đi Đài Loan đến nay anh D chưa hề về Việt Nam lần nào.
  • + Về quan hệ hôn nhân của các con: Từ khi kết hôn và sinh con cho đến nay vợ chồng vẫn ở cùng tôi nên tôi biết rõ mâu thuẫn vợ chồng không có gì to tát, chỉ vì kinh tế. Là do anh D không chịu khó làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, để một mình vợ nuôi hai con, trong khi chị H chỉ làm công nhân may mặc. Từ đầu năm cho đến nay do tôi nhắc quá nhiều nên D có gửi về khoảng 5 triệu đồng cho vợ con. Nhiều lần chị H có nói với tôi là con rất buồn và mệt mỏi, nên khoảng năm 2022 chị H đã làm đơn xin ly hôn, đến nay lại tiếp tục. Tôi nghe các cháu nói lại là mẹ gọi điện cho bố nói nếu bố gửi tiền về nuôi con thì mẹ sẽ rút đơn ly hôn nhưng bố im lặng.
  • + Nay chị H làm đơn xin ly hôn với anh D, tôi cũng biết nguyên nhân từ anh D nhưng hiện tôi chỉ còn có 1 mình nên nguyện vọng của tôi là nếu ly hôn thì ba mẹ con cứ ở với bà để bà hỗ trợ trông nom cháu, vì chị H lương thấp nếu ra ngoài thuê nhà thì không đủ trang trải cho ba mẹ con.
  • + Tôi sẽ nhận các văn bản của tòa để gọi điện thông tin tiếp cho anh D được biết về nội dung sự việc.

* Tại văn bản số: 20812/ QLXNC-P5, về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 10/8/2023 của Cục Q-Bộ C đã cung cấp: Anh Nguyễn Tiến D, sinh ngày 04/7/1984 có lần xuất cảnh gần đây nhất là ngày 16/9/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền lợi ích hợp pháp.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị H: Về Hôn nhân: Chị H được ly hôn anh Nguyễn Tiến D. Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi hai cháu sinh đôi Nguyễn Dương Bình A và Nguyễn Dương Bảo A1 cùng sinh ngày 15/10/2013. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản và công nợ chung riêng: Không yêu cầu nên miễn xét; Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Chị Dương Thị H có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Tiến D hiện nay đang cư trú tại Đài Loan. Vì vậy, TAND tỉnh Thanh Hóa thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa: Vắng mặt tất cả các bên đương sự (chị Dương Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt) nên HĐXX căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả các bên đương sự.

[2] Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Dương Thị H và anh Nguyễn Tiến D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, đây là hôn nhân hợp pháp. Do anh D không tu chí làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, bỏ mặc chị H nuôi hai con sinh đôi trong điều kiện kinh tế khó khăn nên chị H thấy mất niềm tin với chồng, dẫn đến không còn tình cảm và xin ly hôn. Anh D không muốn ly hôn vợ nhưng không tự thay đổi, mà bỏ đi nước ngoài làm ăn nên tình trạng hôn nhân không được cải thiện. Xét vợ chồng ly thân đã từ năm 2019, hai bên không quan tâm đến nhau, có ý thức bỏ mặc, nên cần phải chấp nhận đơn của chị H, xử cho chị H ly hôn với anh D thì mới phù hợp với tình trạng hôn nhân như hiện nay của vợ chồng.

Về con: Vợ chồng có hai cháu gái sinh đôi là Nguyễn Dương Bình A và Nguyễn Dương Bảo A1 cùng sinh ngày 15/10/2013. Từ khi sinh ra đến nay một mình chị H chăm sóc nuôi dưỡng con, anh D lại không có mặt tại Việt Nam nên giao cả hai cháu cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh D không phải cấp dưỡng để nuôi con chung;

Về tài sản và công nợ: Các bên không yêu cầu giải quyết;

Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Xử:

  • - Về hôn nhân: Cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Tiến D;
  • - Về con chung: Công nhận vợ chồng có hai cháu gái sinh đôi là Nguyễn Dương Bình A và Nguyễn Dương Bảo A1 cùng sinh ngày 15/10/2013. Giao cả hai cháu cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu;
  • Anh D có quyền qua lại chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở, nhưng anh D không được lạm dụng quyền thăm nom con để làm ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của chị H;
  • - Về tài sản, công nợ chung, riêng: Tòa án không xem xét.
  • - Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0006619 ngày 21/8/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Chị Dương Thị H và anh Nguyễn Tiến D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa.;
  • - Các đương sự; Lưu HS; Lưu Tòa HN GĐ;
  • - Lưu: HSVA, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2023/HNGĐ-ST ngày 20/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 56/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Thị H - Nguyễn Tiến D "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger