|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 56/2021/HS-ST Ngày 29 - 12 - 2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hồng Chinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thanh Bình - Hiệu trưởng Trường THCS Mai Thị Hồng Hạnh.
- Ông Phan Ngọc Lợi - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Khanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2021/TLST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
H T N, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2003 tại huyện C T A, tỉnh H G; HKTT: Ấp T P A, xã T L T, huyện C T A, tỉnh H G; nơi cư trú: Ấp Đ T, xã Đ B, huyện T L, thành phố C T; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông H V B và bà T T N; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/8/2021 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H T N:
- Ông H V B, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Ấp T P A, xã T L T, huyện C T A, tỉnh H G (là cha của bị cáo N, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bà T T N, sinh năm 1967. HKTT: Ấp T P A, xã T L T, huyện C Thành A, tỉnh H G; nơi cư trú: Ấp Đ T, xã Đ B, huyện T L, thành phố C T (là mẹ của bị cáo N, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo H T N: Ông B Đ Đ là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, thuộc Sở Tư pháp tỉnh K G do Trung tâm cử (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- N H E, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Ấp N V T, xã T L, huyện G R, tỉnh K G (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- T C C, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Ấp T N xã T X, huyện T L, thành phố C T (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 16 giờ 45 phút ngày 22 tháng 6 năm 2021, lực lượng Công an huyện T L, thành phố C T tiến hành khám xét khẩn cấp, tại nhà của N H E, sinh năm 1987 thuộc ấp N V, xã T L, huyện G R, tỉnh K G. Quá trình khám xét lực lượng Công an phát hiện và tạm giữ tại nhà N H E 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; các gói nylon chứa tinh thể trong suốt nghi là ma túy đá và các vật dụng liên quan.
Kết quả điều tra xác định: Khoảng 12 giờ ngày 22 tháng 6 năm 2021, H T N mua ma túy từ một người không rõ lai lịch tại chợ B Đ với giá 2.400.000 đồng. Sau đó, N mang về nhà N H E chia thành 02 phần. Một phần đưa cho H E mang giao cho người tên G L, phần còn lại N cất giấu dưới mái tôn nhà vệ sinh thì bị phát hiện.
Tại bản kết luận giám định số 228/KLGĐ-PC09 ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Tinh thể không màu trong 15 gói nylon là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 3,4644 gam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Bị cáo H T N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[4]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo H T N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo H T N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thụ hình.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ liên quan. Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại Oppo. Trao trả cho bị cáo số tiền 307.000 đồng và các đồ dùng cá nhân không liên quan đến tội phạm.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA L V H C |
Bản án số 56/2021/HS-ST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H T N Tàng trữ trái phép chất ma túy
