|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 559/2024/HS-ST
Ngày: 08/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Quốc Hưng
- Ông Võ Văn Lợi.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 499/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 605/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Công R, giới tính: Nam, sinh 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 46 Đường C, Khu phố C, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Trần Văn T, sinh năm (đã chết); Họ tên mẹ: Hồ Thị N, sinh năm: 1964; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28 tháng 7 năm 2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 17 tháng. Chấp hành xong ngày 14 tháng 10 năm 2022; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/6/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Hồ Thị L,, sinh năm: 1966, địa chỉ: Số A, Đường số B, Khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị T1 – Luật sư thuộc công ty L1 – Đoàn luật sư Thành phố H, địa chỉ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06 tháng 4 năm 2024, Trần Công R (Sinh năm 1984) điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 54F3-7753 đi một mình từ vòng xoay P đến đường N thuộc khu phố C, phường P, thành phố T. Khi R điều khiển xe mô tô đến gần cầu X thì thấy trước nhà phía bên kia đường, địa chỉ nhà không số đường N, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có dựng 01 xe mô tô biển số 52X3-6934 của chị Hồ Thị L (Sinh năm 1966) và trên xe mô tô có treo một túi xách bằng vải ở gương chiếu hậu, không có người trông coi. Ra nảy sinh ý định lấy trộm túi xách trên, R điều khiển xe mô tô quay lại kế bên chiếc xe mô tô của chị L, dùng tay phải lấy trộm túi xách nhưng do quai xách bị vướng vào gương chiếu hậu của xe mô tô nên Ra chưa lấy được thì bị chị L từ trong nhà đi ra phát hiện tri hô, Ra liền điều khiển xe mô tô tẩu thoát được khoảng 10m thì bị người dân bắt giữ và giao Ra cho Công an phường P xử lý. Qua kiểm tra trong túi xách có: 01 điện thoại di động hiệu Realme C33, bị hư màn hình và số tiền 1.880.000 đồng. Quá trình điều tra, Trần Công R đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Kết luận định giá tài sản số 102/KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Realme C33 ram 4GB, dung lượng 64GB màu xanh dương, màn hình bị nứt (đã qua sử dụng), trị giá 453.000 đồng; 01 túi xách không rõ nhãn hiệu Hội đồng từ chối định giá.
Vật chứng vụ án:
- - 01 túi xách bằng vải đã qua sử dụng không có nhãn hiệu;
- - 01 điện thoại di động hiệu Realme C33 ram 4GB, dung lượng 64GB màu xanh dương, màn hình bị nứt;
- - Số tiền 1.880.000 đồng;
- - 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 54F3-7753, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh. Theo đó, chiếc xe do ông Lê Hoàng D (sinh năm 1967) đứng tên chủ sở hữu rồi bán lại cho bà Lê Thị Thu T2 (Sinh năm 1981) (bút lục 73-74, 89). Sau đó bà T2 đã bán lại xe này cho bà Hồ Thị N (Sinh năm 1964) là mẹ ruột của Trần Công R (bút lục 97-98). Bà Hồ Thị N khai cho R mượn xe đi làm phương tiện đi lại, không biết R sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố T đã trả lại xe cho bà Hồ Thị N.
Về trách nhiệm dân sự: Bà L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. (bút lục 63-64).
Cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 23/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Công R về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Người bào chữa cho bị cáo – luật sư Nguyễn Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa có nội dung:
Bà thống nhất với tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố, hành vi phạm tội của bị cáo cũng đã được làm rõ. Tuy nhiên, bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gây thiệt hại không lớn; bên cạnh đó, bị cáo đang bị mắc bệnh AIDS, cần tiền để chữa bệnh và trang trải sinh hoạt; theo quy định tại các điểm g, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập với xã hội.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng.
Đối với quan điểm bào chữa của luật sư. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tranh luận:
+ Tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật hình sự quy định: “Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt”, bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản, giá trị tài sản được coi là tình tiết định khung, nên không thể áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
+ Bị cáo bị bệnh AIDS nhưng hiện đang được điều trị miễn phí theo phác đồ của Bộ Y, đây là chính sách nhân đạo của nhà nước trong việc hỗ trợ người bệnh nhằm giảm gánh nặng về kinh tế và giúp hòa nhập với cộng đồng, việc luật sư cho rằng bị cáo đang bị AIDS, cần tiền để trang trải sinh hoạt và chữa trị để coi là tình tiết giảm nhẹ tại điểm g khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 15, Điều 57, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Công R từ 09 tháng đến 01 năm tù; thời hạn tù được tính từ ngày 13/6/2024.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét;
- - Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố T đã trả lại cho bà Hồ Thị L: 01 túi xách bằng vải đã qua sử dụng không có nhãn hiệu; 01 điện thoại di động hiệu Realme C33 và Số tiền 1.880.000 đồng; Đã trả lại cho bà Hồ Thị N 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 54F3-7753.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, bản ảnh, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06 tháng 4 năm 2024, tại địa chỉ nhà không số đường N, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Công R, sinh năm 1984 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Hồ Thị L 01 túi xách, trong đó có: 01 điện thoại di động hiệu Realme C33, bị hư màn hình và số tiền 1.880.000 đồng, trong quá trình thực hiện hành vi, do vướng gương chiếu hậu của xe mô tô (túi xách bà L treo ở gương chiếu hậu) Trần C chưa lấy được tài sản và bị bà L phát hiện. Tổng tài sản trị giá: 2.333.000 đồng. Hành vi trên của Trần Công R đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu, nhưng không thực hiện được do nguyên nhân ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi trộm cắp tài sản do bị cáo Trần Công R thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173, Điều 15 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 2.333.000 đồng, nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có lối sống buông thả, rất bình tĩnh khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo có 01 tiền sự về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung trước tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu ngày càng gia tăng hiện nay.
[5] Vật chứng vụ án:
- - 01 túi xách bằng vải đã qua sử dụng không có nhãn hiệu; 01 điện thoại di động hiệu Realme C33 và Số tiền 1.880.000 đồng, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại cho bà Hồ Thị L là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 54F3-7753, do ông Lê Hoàng D (sinh năm 1967) đứng tên chủ sở hữu rồi bán lại cho bà Lê Thị Thu T2 (Sinh năm 1981). Sau đó bà T2 đã bán lại xe này cho bà Hồ Thị N (Sinh năm 1964) là mẹ ruột của Trần Công R. Bà Hồ Thị N khai cho R mượn xe đi làm phương tiện đi lại, không biết R sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố T đã trả lại xe cho bà Hồ Thị N là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu hợp pháp; Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Xét đề nghị và lập luận của của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Công R phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Công R phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 15, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Trần Công R 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Buộc bị cáo Trần Công R phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thu |
Bản án số 559/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 559/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRẦN CÔNG R-TRỘM CẮP TÀI SẢN
