|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 559/2024/HS-PT Ngày 16 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Phùng Hải Hiệp;
Bà Đặng Thị Thơm.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 463/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Trần Đức H và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu P, chị Trần Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Trần Đức H; Sinh ngày 02/3/1992, tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố G, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Cán bộ ngân hàng V2 chi nhánh H5; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Hậu T1 và bà: Nguyễn Thị T2; có Vợ: Phạm Thị T3 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giữ từ ngày 14/9/2023 đến ngày 15/9/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Luật sư Võ Thị T4, thuộc Công ty L, Đoàn luật sư H6. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
+ Ông Lê Hữu P, sinh năm 1962, địa chỉ: Số A, đường P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Hữu P: Ông Lê Đại T5, sinh năm 1988; địa chỉ: 1 Q, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
+ Chị Trần Thị T, sinh năm 1994, địa chỉ: Số A, đường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đức H là nhân viên phòng khách hàng cá nhân của ngân hàng V2 chi nhánh tỉnh H5. Trần Đức H đưa ra thông tin khoản vay của khách hàng đã đến thời hạn đáo hạn (gia hạn thêm thời hạn vay) và muốn duy trì gói vay hoặc nâng hạn gói vay thì phải tất toán khoản vay cũ, đồng thờiyêu cầu các khách hàng chuyển tiền vào tài khoản của chính họ, cung cấp tên đăng nhập, mật khẩu, mã OTP để H sử dụng vào việc tất toán khoản vay theo yêu cầu nhưng H không thực hiện mà chiếm đoạt tiền của họ. Ngoài ra, H còn đưa ra thông tin cần vay tiền để đáo hạn khoản vay cho khách hàng hoặc thực hiện chỉ tiêu mở sổ tiết kiệm để các bị hại tin tưởng chuyển tiền cho H vay nhưng H không thực hiện theo thỏa thuận mà chiếm đoạt. Với phương thức thủ đoạn nêu trên, từ tháng 5/2023 đến tháng 8/2023, Trần Đức H đã chiếm đoạt 4.111.662.353 đồng của 06 người bị hại trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:
- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Phan Thị T6, sinh năm 1980, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh:
Ngày 09/01/2023, Trần Đức H làm thủ tục vay thế chấp bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số tiền 450.000.000 đồng và vay tín chấp với số tiền 90.000.000 đồng cho chị Phan Thị T6. Đến khoảng tháng 6/2023, chị Phan Thị T6 liên hệ với H về việc muốn tất toán khoản vay tín chấp số tiền 90.000.000 đồng. Trần Đức H báo chị T6 số tiền cần phải tất toán còn lại là 79.994.000 đồng (gồm số tiền còn lại của khoản vay là 77.744.000 đồng và phí trả nợ trước hạn là 2.250.000 đồng). Trần Đức H nói với chị T6 chuyển 79.994.000 đồng cho H để H tất toán khoản vay này. Tin tưởng H, ngày 03/6/2023, chị T6 sử dụng tài khoản V2 số 09324740079 của mình chuyển 79.994.000 đồng vào tài khoản V2 số 0846089447 của H. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, Trần Đức H chỉ thực hiện thanh toán trả tiền gốc, tiền lãi của khoản vay trong 02 tháng (tháng 6 và 7/2023) là 11.674.646 đồng, còn lại số tiền 68.319.354 đồng, H chiếm đoạt và sử dụng chi tiêu cá nhân.
Đến đầu tháng 8/2023, chị Phan Thị T6 liên hệ với Trần Đức H về việc muốn nâng hạn mức của khoản vay 450.000.000 lên 650.000.000 đồng. Trần Đức H hướng dẫn chị T6 làm thủ tục tất toán khoản vay 450.000.000 đồngvà giải ngân khoản vay mới là 650.000.000 đồng, đồng thời nói với chị T6 liên hệ với anh Trần Đình Việt S (sinh năm 1992, trú tại phường T, Thành phố H, là bạn của H) vay 500.000.000 đồng và yêu cầu chị T6 cung cấp mật khẩu, mã OTP của tài khoản V2 số 09324740079 của chị T6 để H sử dụng số tiền này làm thủ tục tất toán khoản vay cũ và giải ngân khoản vay mới cho chị T6. Đến chiều ngày 09/8/2023, anh Trần Đình V S chuyển 500.000.000 đồng đến tài khoản V2 số 09324740079 để cho chị T6 vay, thời hạn 02 ngày, lãi suất 2.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Tuy nhiên, Trần Đức H không thực hiện việc tất toán khoản vay cho chị T6 mà chuyển số tiền 500.000.000 đồng vào tài khoản BIDV số 52210000259426 của H để cá cược trực tuyến. Đến ngày 24/8/2023, chưa thấy ngân hàng giải ngân cho khoản vay mới nên chị T6 hỏi H thì H đưa ra các lý do như chờ hồ sơ phê duyệt, chờ phản hồi của cấp trên, giám đốc đi vắng... và sau đó H chặn liên lạc điện thoại của chị T6. Trần Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt của chị Phan Thị T6 tổng số tiền là 568.319.354 đồng.
- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Anh T7, sinh năm 1985, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh:
Ngày 16/01/2023, Trần Đức H làm thủ tục vay thế chấp bằngGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất với khoản vay 1.330.000.000 đồng tại ngân hàng V2 chi nhánh tỉnh H5 cho anh Nguyễn Anh T7 (trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh). Đến đầu tháng 8/2023, anh T7 nói với H về việc muốn nâng hạn mức của gói vay từ 1.330.000.000 đồng lên 1.530.000.000 đồng. Đối chiếu quy định của ngân hàng thì trường hợp của anh T7 chỉ nâng hạn mức gói vay lên 1.510.000.000 đồng nhưng H vẫn nói dối với anh T7 là H sẽ làm thủ tục nâng hạn mức gói vay cho anh T7 lên 1.530.000.000 đồng và anh T7 phải tất toán khoản vay cũ 1.330.000.000 đồng. H hướng dẫn cho anh T7 liên hệ với anh Trần Hậu Minh V1 (trú tại số A N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh) vay tiền, đồng thờiyêu cầu anh T7 cung cấp mật khẩu, mã OTP của tài khoản V2 số 0865803685 của anh T7 cho H để H sử dụng số tiền này làm thủ tục tất toán khoản vay cũ và giải ngân khoản vay mới cho anh T7. Đến chiều cùng ngày 23/8/2023, anh V1 sử dụng tài khoản V2 số [...] của mình chuyển 1.330.000.000 đồng đến tài K có số 0865803685 để cho anh T7 vay, thời hạn 10 ngày, lãi suất 2.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Tuy nhiên, H không làm thủ tục tất toán khoản vay cũ và giải ngân khoản vay mới cho anh T7 mà chuyển số tiền 1.330.000.000 đồng vào tài khoản B2 của H để trả nợ cho anh Lê Hữu P (trú tại phường T, thành phố H) số tiền 867.850.000 đồng; trả nợ cho chị Trần Thị T (trú tại phường B, thành phố H) số tiền 131.000.000 đồng và sử dụng cá cược trực tuyến.Trần Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Anh T7 số tiền là 1.330.000.000 đồng.
- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Lê Quang B, sinh năm 1991, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh:
Ngày 26/5/2023, anh Lê Quang B liên hệ với Trần Đức H làm thủ tục vay thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với khoản vay 1.000.000.000 đồng của ngân hàng V2 chi nhánh H5. Theo quy định đối với khoản vay thế chấp của anh B thì được ưu đãi vay khoản tín chấp 50.000.000 đồng nhưng anh B không có nhu cầu vay khoản này. Tuy nhiên, H nói với anh B là muốn giải ngân khoản vay thế chấp 1.000.000.000 đồng thì anh B cần phải vay tín chấp khoản vay 50.000.000 đồng và nếu anh B không có nhu cầu thì chuyển cho H để H thực hiện tất toán khoản vay này. Tin tưởng H, khoảng cuối tháng 5/2023, anh B làm thủ tục vay tín chấp khoản vay 50.000.000 đồng và được giải ngân 49.100.000 đồng (ngân hàng đã trừ 900.000 đồng bảo hiểm khoản vay), đồng thời anh B sử dụng tài khoản V2 số 0975243552 của mình chuyển số tiền 49.100.000 đồng đến tài khoản V2 số 0846089447 của H để H tất toán. Sau khi nhận được tiền, Trần Đức H chỉ thanh toán tiền lãi và gốc của khoản vay tín chấp trong 02 tháng (tháng 6 và tháng 7/2023) là 9.757.001 đồng, còn lại 39.342.999 đồng, H chiếm đoạt và sử dụng chi tiêu cá nhân. Trần Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Lê Quang B số tiền là 39.342.999 đồng.
- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh năm 1995, trú tại phường T, thành phố H
Chị Nguyễn Thị Cẩm H1 và Trần Đức H có mối quan hệ quen biết. Quá trình quen biết nhau, H nhiều lần liên lạc với chị H1 vay tiền để đáo hạn cho khách hàng từ 50.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng với lãi suất 1.000 đồng đến 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày và H thực hiện việc trả tiền gốc, lãi đúng thời hạn. Mặc dù, từ ngày 03/8/2023 đến ngày 21/8/2023, không có khoản vay nào của khách hàng đến hạn đáo hạn hoặc nộp thẻ tín dụng cho khách hàng theo yêu cầu nhưng H đã nhiều lần nói với chị Nguyễn Thị Cẩm H1 là cần tiền để làm thủ tục đáo hạn hay nộp tiền vào thẻ tín dụng cho khách hàng để vay tiền của chị H1 với thời hạn 02 ngày, lãi suất 1.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Tin tưởng H nên vào ngày 03/8/2023, ngày 08/8/2023, ngày 17/8/2023 và ngày 21/8/2023, chị Nguyễn Thị Cẩm H1 đã sử dụng 02 tài khoản M2 (số G và số 6066666888) của chị H1 chuyển 04 lần với tổng số tiền 265.000.000 đồng đến tài khoản BIDV số 52210000259426 của H để cho H vay. Tuy nhiên, H không thực hiện theo thỏa thuận mà chiếm đoạt tiền của chị H1 để cá cược trực tuyến. Khi chị H1 đòi lại tiền thì H không có khả năng trả lại tiền cho chị H1. Trần Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Cẩm H1 tổng số tiền là 265.000.000 đồng.
- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiềncủa bà Hồ Thị M, sinh năm 1963, trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh:
Ngày 05/8/2022, Trần Đức H làm thủ tục cho bà Hồ Thị M vay thế chấp bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với khoản vay 639.000.000 đồng với thời hạn vay 12 tháng. Đến đầu tháng 8/2023, bà M liên hệ với H để làm thủ tục đáo hạn và được H hướng dẫn làm thủ tục. Để bà M có tiền tất toán khoản vay 639.000.000 đồng và gia hạn thời hạn vay cho bà M, H đã hướng dẫn cho bà M liên hệ với anh Nguyễn Mậu Bảo Đ (sinh năm 1993, trú tại phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, là người quen biết của H) để vay tiền đồng thời yêu cầu bà M cung cấp mật khẩu, mã OTP của tài khoản V2 số [...] của bà M cho H để H sử dụng số tiền này làm thủ tục tất toán khoản vay. Đến chiều ngày 18/8/2023, anh Nguyễn Mậu Bảo Đ sử dụng tài khoản V2 số 0931751777 mang tên Nguyễn Hữu C (C là nhân viên của anh Đ) chuyển 639.000.000 đồng đến tài khoản V2 số [...] để cho bà M vay, thời hạn 02 ngày, lãi suất 2.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Tuy nhiên, H không làm các thủ tục để đáo hạn khoản vay cho bà M như cam kết mà H thực hiện chuyển số tiền 639.000.000 đồng vào tài khoản B2 của H để trả nợ cho anh Lê Hữu P1 số tiền 239.000.000 đồng và cá cược trực tuyến. Trần Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt của bà Hồ Thị M tổng số tiền là 639.000.000 đồng.
- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Mậu Bảo Đ, sinh năm 1993, trú tại phường N, Thành phố H.
Khoảng giữa tháng 8/2023, Trần Đức H đã vay 1.250.000.000 đồng của ông Lê Hữu P (trú tại phường T, thành phố H) để thực hiện đáo hạn cho khách hàng. Tuy nhiên, sau khi ngân hàng giải ngân khoản vay cho khách hàng, H không trả số tiền này cho ông P mà sử dụng vào việc chơi game. Ngày 23/8/2023, đến hạn trả tiền cho ông P nhưng không có tiền nên H2 với anh Nguyễn Mậu Bảo Đ (trú tại phường N, thành phố H) đang cần vay số tiền 1.270.000.000 đồng để thực hiện chỉ tiêu mở số tiết kiệm cho H (tức là mở sổ tiết kiệm mới để đảm bảo chỉ tiêu được giao, sau đó rút tiền ra sẽ trả lại tiền vay). Tin tưởng H, ngày 23/8/2023, anh Nguyễn Mậu Bảo Đ sử dụng tài khoản V2 số 0931751777 mang tên Nguyễn Hữu C (C là nhân viên của anh Đ) chuyển 1.270.000.000 đồng vào tài khoản BIDV số 52210259426 của H3 choHiếu vay, thời gian 02 ngày, lãi suất 2.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Tuy nhiên, H không thực hiện việc mở sổ tiết kiệm như đã nói mà chiếm đoạt tiền của anh Đ để trả nợ cho anh Lê Hữu P số tiền 1.267.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân. Đến thời hạn nhưng không có khả năng trả lại tiền nên H đưa ra các lý do gian dối như hết giờ ngân hàng không giao dịch, ngân hàng ưu tiên nguồn trái phiếu nên không giải ngân khoản vay mới...và sau đó H chặn liên lạc điện thoại của anh Đ. Trần Đức H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Mậu Bảo Đ số tiền là 1.270.000.000 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Chị Phan Thị T6 yêu cầu bị cáo Trần Đức H bồi thường số tiền 568.319.354 đồng, bị cáo đã tác động gia đình (chị Phạm Thị T3- vợ của bị cáo) trả cho chị T6 số tiền 30.000.000 đồng còn 538.319.354 đồng chị Phan Thị T6 yêu cầu bị cáoTrần Đức Hiếu tiếp tục bồi thường.
- - Anh Nguyễn Anh T8 cầu bị cáo Trần Đức H bồi thường 1.330.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình (chị Phạm Thị T3- vợ của bị cáo) trả cho anh T7 số tiền 45.000.000 đồng. Anh Nguyễn Anh T7 yêu cầu bị cáo Trần Đức H tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 1.285.000.000 đồng.
- - Anh Lê Quang B1 cầu bị cáo Trần Đức H bồi thường số tiền 39.342.999 đồng.
- - Chị Nguyễn Thị Cẩm H1 yêu cầu bị cáo Trần Đức H bồi thường số tiền 265.000.000 đồng.
- - Bà Hồ Thị M1 cầu bị cáo Trần Đức H bồi thường 639.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình (chị Phạm Thị T3- vợ của bị cáo) trả cho bà M số tiền 30.000.000 đồng. Bà Hồ Thị M tiếp tục yêu cầu bị cáo Trần Đức H bồi thường số tiền còn lại 609.000.000 đồng.
- - Anh Nguyễn Mậu Bảo Đ yêu cầu bị cáo Trần Đức H bồi thường 1.270.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình (chị Phạm Thị T3- vợ của bị cáo) trả cho anh Đ số tiền 45.000.000 đồng. Anh Nguyễn Mậu Bảo Đ tiếp tục yêu cầu bị cáo Trần Đức H bồi thường số tiền 1.225.000.000 đồng.
* Vật chứng, đồ vật, tài sản đã thu giữ: Không.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-P2, ngày 22 tháng 12 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Trần Đức H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Trần Đức H từ 13 năm tù đến 14 năm tù.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tuyên bố bị cáo Trần Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đức H 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/3/2024, bị cáo Trần Đức H kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 02/4/2024 và ngày 04/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T và ông Lê Hữu P kháng cáo phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Trần Đức H thừa nhận hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như trong quá trình điều tra bị cáo đã khai và tại phiên tòa sơ thẩm, bản án sơ thẩm đã nêu. Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo tác động để gia đình nộp thêm 100.000.000 ( một trăm triệu) đồng bồi thường cho các bị hại; bị cáo nộp 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra bị cáo có ủng hộ các gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương và là cháu đích tôn thờ cúng Liệt sĩ Trần Hậu T9 là ông của bị cáo. Bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan nên bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xác định khi trả nợ cho chị Trần Thị T và ông Lê Hữu P hai người này đều không biết nguồn gốc của nguồn tiền. Tiền được trả chuyển khoản vào tài khoản của chị Trần Thị T và ông Lê Hữu P, hòa vào dòng tiền chung của ngân hàng. Việc trả nợ là trách nhiệm và do bị cáo tự nguyện trả chị Trần Thị T và ông Lê Hữu P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T và ông Lê Hữu P kháng cáo đề nghị hủy phần quyết định buộc ông P, bà T nộp lại số tiền đã nhận của H trả nợ. Vì tiền bị cáo trả nợ trước khi vụ án được khởi tố và không thể biết được đó là tiền bị cáo phạm tội mà có. Sau khi nhận được tiền bị cáo trả nợ, thì ông P, bà T cũng trả nợ người khác và ngân hàng, tiền đó hòa chung vào tiền của ông P, bà T không còn là vật đặc định, có dấu vết riêng. Đồng thời số tiền bị cáo trả nợ ông P, bà T chỉ là một phần trong số tiền bị cáo chiếm đoạt người khác. Số tiền còn lại khác bị cáo đem tiêu dùng, trả nợ người khác thì không bị thu hồi; nên việc thu hồi tiền của ông P, bà T là không hợp lý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Sau khi phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo, nội dung kháng cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay có các tình tiết mới giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như bị cáo tác động để gia đình nộp thêm 100.000.000 (một trăm triệu) đồng bồi thường cho các bị hại; bị cáo nộp 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra bị cáo có ủng hộ các gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương và là cháu đích tôn thờ cúng Liệt sĩ Trần Hậu T9 là ông của bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm. Đối với kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mặc dù nguồn tiền bị cáo do phạm tội mà có dùng trả nợ cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trước khi vụ án được khởi tố. Việc trả nợ là ngay thẳng nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS thì tiền này được trả lại cho chủ sở hữu. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T và ông Lê Hữu P.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ. Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo thêm các tình tiết giảm nhẹ, do tại cấp phúc thẩm bị cáo có các tình tiết mới; giảm hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo là con trai độc nhất, bố bị cáo đang là người thờ cúng Liệt sĩ, do vậy đề nghị HĐXX áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện như bản án sơ thẩm đã nêu và xin giảm nhẹ hình phạt. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Lợi dụng là nhân viên ngân hàng V2, bị cáo H đã đưa ra thông tin gian dối về việc đáo hạn các khoản vay, nâng hạn mức các khoản vay, vay tín chấp của các khách hàng, thực hiện chỉ tiêu sổ tiết kiệm để lừa đảo chiếm đoạt của 06 người bị hại trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh với tổng số tiền là 4.111.662.353 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo H4 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Trần Đức H nhận thức rõ về hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi, muốn chiếm đoạt tiền của bị hại nên đã đưa ra thông tin gian dối, sai sự thật nhằm để người bị hại tin tưởng, trả tiền cho mình. Trong vụ án này bị cáo H thực hiện nhiều lần phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo ra đầu thú; bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại; có bố, mẹ được tặng nhiều Bằng khen trong quá trình công tác. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chiếm đoạt của các bị hại số tiền 4.111.662.353 đồng nhưng chỉ bồi thường cho các bị hại 150 triệu đồng nên tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo chỉ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm bị cáo H có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như, bị cáo như bị cáo tác động để gia đình nộp thêm 100.000.000 (một trăm triệu) đồng bồi thường, khắc phục hậu quả cho các bị hại; bị cáo nộp 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra trong thời gian sinh sống tại địa phương bị cáo tích cực ủng hộ 5.000.000 đồng vào quỹ ủng hộ cho các gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương và bị cáo là cháu đích tôn thờ cúng Liệt sĩ Trần Hậu T9 là ông của bị cáo. Như vậy tổng số tiền bị cáo đã khắc phục hậu quả cho các bị hại là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng. Vì vậy, HĐXX có căn cứ áp dụng thêm điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đối với ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS là không chính xác.
Tại phiên tòa, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm hình phạt đối với bị cáo; sửa bản án sơ thẩm về hình phạt là phù hợp.
[3] Xét kháng cáo của bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P:
Trong vụ án này, bị cáo H trả nợ cho chị Trần Thị T và ông Lê Hữu P từ tháng 8/2023 trở về trước, thì bà T và ông P đều không biết đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Đến ngày 14/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H mới có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Vì vậy, việc vay mượn và trả nợ giữa bị cáo với chị Trần Thị T và ông Lê Hữu P là các giao dịch dân sự hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H xác định việc trả nợ của bị cáo là trách nhiệm của bị cáo và do bị cáo tự nguyện trả; những người nhận tiền trả nợ của bị cáo H là bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P không đồng ý nộp lại giá trị số tiền này. Xét thấy, tiền do bị cáo trả nợ cho bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P lúc này là tài sản của chủ sở hữu đã nhận, khoản tiền không còn sự quản lý của bị cáo. Đồng thời, bị cáo chuyển tiền trả nợ cho ông P và bà T là thông qua các tài khoản ngân hàng mang tên bị cáo hoặc tên nguời khác chuyển đến tài khoản ngân hàng mang tên của ông P và bà T, các giao dịch trả nợ không dùng tiền mặt. Do vậy, tiền là vật đặc định đã hòa trộn với tiền trong hệ thống tài khoản ngân hàng của người nhận một cách ngay tình và được chuyển hóa qua việc thanh toán trong các giao dịch dân sự, tiền này hòa vào dòng tiền do ngân hàng quản lý và thực tế ngân hàng là người trực tiếp quản lý các tài khoản, nắm giữ số tiền do H chuyển trả trong hệ thống ngân hàng nên không thể xác định dấu vết đặc định riêng. Sau khi nhận được tiền của H trả nợ thì ông P và bà T cũng đã chi tiêu, sử dụng số tiền này trước khi vụ án được khởi tố. Mặt khác, trong vụ này bị cáo H chiếm đoạt tiền của người khác sau đó chỉ dùng một phần để trả nợ ông P và bà T, phần còn lại bị cáo đã dùng chi dùng hoặc trả nợ cho người khác, cho ngân hàng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự chỉ buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông P và bà T phải giao nộp lại số tiền để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án về bồi thường cho bị cáo là không chính xác, không công bằng với các khoản tiền khác mà bị cáo chiếm đoạt đã tiêu đi nhưng không bị buộc thu hồi, giao nộp lại. Đồng thời theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS trường hợp xác định được “Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp”. Do vậy, tiền bị cáo chiếm đoạt sau khi chuyển vào hệ thống giao dịch của ngân hàng không còn dấu vết riêng là vật chứng trong vụ án và được bị cáo sử dụng giao dịch ngay tình, trong vụ án này là trả nợ cho ông P và bà T là thông qua các tài khoản ngân hàng không bị buộc hoàn trả lại để đảm bảo thi hành án cho cho các bị hại. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, không chấp nhận kháng cáo của của bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P là không phù hợp, không đảm bảo công bằng với các khoản tiền khác mà bị cáo chi tiêu đi nhưng không bị thu hồi.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P; sửa bản án sơ thẩm.
[3]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Hữu P, chị Trần Thị T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 4 Điều 106; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Trần Đức H; chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P về biện pháp tư pháp; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Trần Đức H 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2023.
- Xác nhận bị cáo Trần Đức H đã nộp thêm 100.000.000 (một trăm triệu) đồng bồi thường cho các bị hại; bị cáo nộp 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 000016 ngày 16/7/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- -Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P về không buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Trần Thị T và ông Lê Hữu P phải giao nộp lại số tiền để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án về bồi thường cho bị cáo Trần Đức H, cụ thể: Ông Lê Hữu P không phải nộp lại số tiền 2.373.850.000 (hai tỷ ba trăm bảy mươi ba triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng, để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo. Bà Trần Thị T không phải nộp lại số tiền 131.000.000 (một trăm ba mươi mốt triệu) đồng, để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo.
Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự.
- Về án phí: Bị cáo Trần Đức H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Hữu P, chị Trần Thị T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
Bản án số 559/2024/HS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 559/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
