Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 559/2025/HS-PT

Ngày 19/6/2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Thu Hường
Các Thẩm phán:Ông Hoàng Văn Thành
Ông Phạm Năng Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Bình Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 386/2025/TLPT-HS ngày 26 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T, bị cáo Nguyễn Tiến Đ, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Văn Q, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hữu Duy M, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Viết Nhật L, bị cáo Đặng Hoàng L1, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đặng Hoàng L1, người đại diện theo pháp luật của của bị cáo Nguyễn Đình Quang H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Đình Tuấn A, sinh ngày 19/5/2007 (tại thời điểm phạm tội bị cáo 17 tuổi 02 tháng 12 ngày), tại Hà Nội; Nơi cư trú: Số C, ngách B phố Đ, tổ A phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn L2; Con bà: Nguyễn Thị H1; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Văn Q, sinh ngày 25/12/2007 (tại thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 07 tháng 06 ngày), tại Vĩnh Phúc; Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Số C đường L, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn H2; Con bà: Phan Thị D; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Hữu Duy M, sinh ngày 05/3/2008 (tại thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 4 tháng 26 ngày), tại Hà Nội; Nơi cư trú: số A, ngách D đường Đ, tổ A phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu T1; Con bà: Trần Thị T2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  4. Nguyễn Viết Nhật L, sinh ngày 21/6/2007 (tại thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 04 tháng 26 ngày), tại Hà Nội; Nơi cư trú: số B, ngõ D M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Viết Phi H3; Con bà: Trần Thị H4; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  5. Đặng Hoàng L1, sinh ngày 28/02/2007 (tại thời điểm phạm tội bị cáo 17 tuổi 01 tháng 10 ngày), tại Hà Nội; Nơi cư trú: tổ dân phố số A, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn T3; Con bà: Nguyễn Thị Q1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  6. Nguyễn Đình Quang H, sinh ngày 27/02/2008 (tại thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 05 tháng 04 ngày), tại Hà Nội; Nơi cư trú: số A, ngõ I phố Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình B; Con bà: Lê Thị T4; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến ngày 15/11/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  7. Nguyễn Anh T, sinh ngày 21/6/2006, tại Hà Nội; Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn K; Con bà: Nguyễn Thị C; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  8. Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 12/11/2007 (tại thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 19 ngày), tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số A Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Huy H5; Con bà: Ngô Thị X; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến ngày 15/11/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971 (mẹ đẻ)

Trú tại: Số C, ngách B phố Đ, tổ A phường T, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Văn Q: Chị Phan Thị D, sinh năm 1984 (mẹ đẻ)

Trú tại: Số C đường L, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hữu Duy M: Chị Trần Thị T2, sinh năm 1983 (mẹ đẻ)

Trú tại: Số A, ngách D đường Đ, tổ A phường T, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt)

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Viết Nhật L: Chị Trần Thị H4, sinh năm 1984 (mẹ đẻ)

Trú tại: Số B, ngõ D M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đặng Hoàng L1: Chị Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1983 (mẹ đẻ)

Trú tại: Số A đường Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Quang H: Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1976 (bố đẻ)

Trú tại: Số A, ngõ I phố Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Tiến Đ: Ông Nguyễn Viết T5 (bác ruột)

Trú tại: Số A Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A: Ông Nguyễn Văn L3, Luật sư - Công ty L5 - Đoàn luật sư thành phố H

Địa chỉ: Số B đường N, phường C, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Quang H: Bà Dương Bích H6 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H.

Địa chỉ: Số B đường Q, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội (có mặt).

* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Hữu Duy M, Nguyễn Viết Nhật L, Đặng Hoàng L1, Nguyễn Tiến Đ: Luật sư Nguyễn Thị Kim M1 - Văn phòng L6, Đoàn luật sư thành phố H

Địa chỉ: P, A8 N, ngõ D Phố P, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội (có mặt).

- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Lưu Việt A1, Trần Hữu V, Nguyễn Xuân B1, Tạ Quang Phương H7.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L4, Anh Dương Văn T6.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 31/7/2024, Ủy ban nhân dân phường P nhận được thông tin phản ánh của quần chúng nhân dân về việc vào khoảng 02h00 ngày 31/7/2024, tại khu vực đường S, phường P, quận N, Hà Nội có 01 nhóm thanh niên điều khiển xe máy mang theo hung khí, lạng lách, đánh võng đuổi nhau trên đường gây mất an ninh trật tự nên đã báo Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận N. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận N đã tiến hành xác minh đưa những đối tượng liên quan về trụ sở để làm rõ.

Quá trình điều tra xác định: do mâu thuẫn từ trước, Nguyễn Đình Tuấn A hẹn đánh nhau với một thanh niên có tên Tuấn H8 (không xác định được nhân thân) ở làng T, phường T, quận N vào đêm ngày 30/7/2024. Sau đó, Tuấn A rủ Nguyễn Mạnh T7, Trần Văn Q, Nguyễn Viết Nhật L, Nguyễn Anh T, Tạ Quang Phương H7, Nguyễn Tiến Đ, cùng đi đánh nhau với nhóm Tuấn H8 thì tất cả đều đồng ý. T7 rủ Nguyễn Đình Quang H, Đặng Hoàng L1, Dương Văn T6 và Nguyễn Tôn H9 (không xác định được nhân thân), Nhật L rủ thêm Lưu Việt A1 đi cùng. Tuấn A hẹn cả nhóm khoảng 01h30' ngày 31/7/2024 tập trung ở cổng làng Đ rồi Tuấn A nhắn cho Nguyễn Hữu Duy M chuẩn bị hung khí tối mang đi. Số hung khí này gồm 08 thanh tuýp sắt hàn dao nhọn dài từ 2-2,5m do Tuấn A và Q tự hàn và cất giấu tại nhà M khoảng 01 tuần mục đích để đi đánh nhau. Khoảng 01h30' ngày 31/7/2024, T6 cùng Nguyễn Hữu Duy M, Trần Hữu V mang số hung khí trên ra cuối làng sau đó ra khu vực cổng làng Đ tập trung cùng cả nhóm. Sau khi cả nhóm tập trung gồm 08 xe máy tại cổng làng, Tuấn A mang số hung khí tới bảo mọi người tự lấy mỗi xe một thanh tuýp sắt. Tuấn A sử dụng điện thoại gọi và nhắn tin cho Mạnh T7 nhưng không được nên Tuấn A đăng nhập vào tài khoản Facebook của T7 để hẹn nhóm của T8 H8 đánh nhau nhưng không liên hệ được. Sau đó, Tuấn A bảo cả nhóm di chuyển sang Aeonmall H đánh nhau với nhóm Tuấn H8. Lúc này, Nguyễn Tiến Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen không gắn biển kiểm soát chở Tuấn A ngồi phía sau cầm 01 dao phóng; Nguyễn Anh T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển kiểm soát chở Nguyễn Tôn H9 ngồi sau cầm 01 dao phóng; Nguyễn Xuân B1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu tím than chở Đặng Hoàng L1 ngồi phía sau cầm 01 dao phóng; Nguyễn Đình Quang H điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng không gắn biển kiểm soát chở Dương Văn T6 ngồi phía sau cầm 01 dao phóng; Tạ Quang Phương H7 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen không gắn biển kiểm soát chở Trịnh Công M2 (không xác định được nhân thân) và Trần Văn Q ngồi phía sau, mỗi người cầm 01 dao phóng; Lưu Việt A1 chở Nhật L ngồi sau xe máy cầm 01 dao phóng, Trần Hữu V điều khiển xe máy nhãn hiệu Vario không gắn biển kiểm soát chở Nguyễn Hữu Duy M ngồi phía sau cầm 01 ống túy sắt không gắn dao phóng và 02 hai đối tượng là bạn của Nguyễn Anh T (không rõ nhân thân) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen người sau cầm dao chặt hàn gắn ống tuýt sắt. Xe của Tuấn A đi trước cả nhóm theo sau, lần lượt cách nhau từ 4 - 5m dải đều trên đường. Trên đường đi, cả nhóm phóng nhanh nối đuôi nhau, kéo dao có hàn tuýp sắt xuống đường tạo lửa và tiếng động rồi cười nói gọi nhau. Cả nhóm di chuyển từ đầu làng Đ vòng đi vòng lại khu vực Aeon nhiều lần nhưng không gặp nhóm Tuấn H8 nên đi theo tuyến Tố Hữu - A - S - Đại lộ T - Quay đầu về A - H - T - H - A - S - Đ. Khi cả nhóm đi trên đường S hướng đi từ A về Đại lộ T thì gặp 01 xe máy kẹp 03 đi cùng chiều nên Đặng Hoàng L1 và Tạ Quang P H7 ép xe máy trên vào lề đường để dọa đánh. H7 nói “chúng mày nhìn đểu tao à” còn Hoàng L1 vung dao dọa chém sau đó đập vào BKS xe máy của 03 thanh niên trên chửi bới đe dọa. Ba thanh niên trên xin thì cả nhóm lên xe tiếp tục di chuyển. Sau khi di chuyển qua nhiều quãng đường mà không gặp được nhóm của Tuấn H8 đến khoảng 03 giờ 30 phút cả nhóm tập trung tại đầu làng Đ. Tuấn A bảo cả nhóm để hung khí lại cho M mang về nhà cất giấu rồi tất cả giải tán. Đến ngày 01/8/2024 thì các đối tượng Nguyễn Đình Tuấn A, Trần Văn Q, Nguyễn Hữu Duy M, Nguyễn Viết Nhật L, Đặng Hoàng L1, Nguyễn Đình Quang H đến cơ quan điều tra đầu thú. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã làm rõ được các đối tượng khác có liên quan gồm: Nguyễn Anh T, Lưu Việt A1, Nguyễn Xuân B1, Trần Hữu V, Nguyễn Tiến Đ và Tạ Quang Phương H7.

Vật chứng:

  • Thu giữ của Nguyễn Hữu Duy M: 02 tuýp sắt hàn dao nhọn dài 2,5m; 05 tuýp sắt hàn dao nhọn dài 2m; 01 tuýp sắt dài 02m; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu đỏ.
  • Thu giữ của Đặng Hoàng L1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 màu đỏ, gắn sim số: 0774.579.972.
  • Thu giữ của Nguyễn Đình Quang H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7S Plus.
  • Thu giữ của Nguyễn Đình Tuấn A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 promax màu đen.
  • Thu giữ của Dương Văn T6: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12 Pro màu vàng.
  • Thu giữ: 01 máy hàn điện (do chị Nguyễn Thị L4) giao nộp.

Hành vi của các đối tượng điều khiển xe máy mang theo hung khí, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau, hò hét kéo hung khí trên các cung đường T - A - S - Đại lộ T - quay về A - H - T - H - A - Sa Đôi - Đ đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Ngày 31/7/2024, Ủy ban nhân dân phường P có công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N xử lý nghiêm các đối tượng.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Đình Tuấn A, Trần Văn Q, Nguyễn Hữu Duy M, Nguyễn Viết Nhật L, Đặng Hoàng L1, Nguyễn Đình Quang H, Nguyễn Anh T, Lưu Việt A1, Nguyễn Xuân B1, Trần Hữu V, Nguyễn Tiến Đ và Tạ Quang Phương H7 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với Dương Văn T6, tại thời điểm phạm tội T6 15 tuổi 08 tháng 22 ngày (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) nên ngày 08/11/2024, Công an quận N ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức: Cảnh cáo đối với Dương Văn T6 về hành vi Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với Nguyễn Mạnh T7 sau khi rủ một số đối tượng đi đánh nhau với nhóm của Tuấn H8 nhưng do không liên lạc được với nhóm của Tuấn H8 nên T7 ở nhà không đi nữa, không tham gia cùng các đối tượng khác nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Nguyễn Mạnh T7.

Đối với đối tượng Nguyễn Tôn H9, Trịnh Công M2 và 02 đối tượng là bạn của Nguyễn Anh T, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra đã ra quyết định tách rút phần tài liệu có liên quan đến các đối tượng để làm rõ và xử lý sau.

Đối với 03 nam thanh niên bị Tạ Quang Phương H7 và Đặng Hoàng L1 đe dọa, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ làm rõ và xử lý.

Đối với chị Nguyễn Thị L4 cho Trần Văn Q mượn 01 máy hàn điện nhưng không biết mục đích Q mượn để làm gì. Ngày 08/11/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả cho chị L4 01 máy hàn điện. Sau khi nhận lại tài sản chị L4 không có yêu cầu đề nghị gì.

Bản Cáo trạng số 333/CT-VKSNTL, ngày 21/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, Trần Văn Q, Nguyễn Hữu Duy M, Nguyễn Viết Nhật L, Đặng Hoàng L1, Nguyễn Đình Quang H, Nguyễn Anh T, Lưu Việt A1, Nguyễn Xuân B1, Trần Hữu V, Tạ Quang Phương H7 và Nguyễn Tiến Đ về Tội gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Bản án sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã quyết định.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, Trần Văn Q, Nguyễn Hữu Duy M, Nguyễn Viết Nhật L, Đặng Hoàng L1, Nguyễn Đình Quang H, Nguyễn Anh T, Lưu Việt A1, Nguyễn Xuân B1, Trần Hữu V, Nguyễn Tiến Đ, Tạ Quang Phương H7 phạm Tội gây rối trật tự công cộng.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự:

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 08 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 08 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Duy M 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 08 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Nhật L 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 08 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng L1 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 08 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Lưu Việt A1 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 11 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Trần Hữu V 18 tháng tù, tổng hợp hình phạt với bản án số 05/HS-ST, ngày 07-01-2025 của Toà án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội đã xử phạt bị cáo Trần Hữu V 01 năm tù về Tội gây rối trật tự công cộng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 10 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Quang H 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 08 năm 2024 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024).
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B1 18 tháng tù, tổng hợp hình phạt với bản án số 05/HS-ST, ngày 07-01-2025 của Toà án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội đã xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B1 09 tháng tù về Tội gây rối trật tự công cộng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2024.
  • Xử phạt bị cáo Tạ Quang Phương H7 18 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 10 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 10 năm 2024 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024).

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/03/2025 bị cáo Nguyễn Anh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 18/03/2025 bị cáo Nguyễn Tiến Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 26/03/2025 người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 21/03/2025 người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 20/03/2025 người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 17/03/2025 người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hữu Duy M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 20/03/2025 người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Viết Nhật L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 27/03/2025 bị cáo Đặng Hoàng L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 17/03/2025 người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đặng Hoàng L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 17/03/2025 người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Quang H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo và người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Tuấn A giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo. Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử và đề nghị được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo Tuấn A đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và đề nghị trả lại điện thoại đã thu giữ của bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Quang H đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho các bị cáo Duy M, Nhật L, Hoàng L1, Tiến Đ đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của các bị cáo và người đại diện theo pháp luật của các bị cáo đề nghị:

Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Anh T, bị cáo Nguyễn Tiến Đ, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Văn Q, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hữu Duy M, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Viết Nhật L, bị cáo Đặng Hoàng L1, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đặng Hoàng L1, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Quang H là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên hình phạt đối với các bị cáo Tuấn A, M, Q. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Viết Nhật L, Đặng Hoàng L1, Nguyễn Đình Quang H, Nguyễn Tiến Đ.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Nhật L 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng L1 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Quang H 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh T. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Các bị cáo T, Nhật L, Hoàng L1, Đ, H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của Nguyễn Anh T, bị cáo Nguyễn Tiến Đ, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Văn Q, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hữu Duy M, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Viết Nhật L, bị cáo Đặng Hoàng L1, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đặng Hoàng L1, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Quang H đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Theo lời khai của các bị cáo, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 02h00' ngày 31/7/2024, Nguyễn Đình Tuấn A, Trần Văn Q, Nguyễn Hữu Duy M, Nguyễn Viết Nhật L, Đặng Hoàng L1, Nguyễn Đình Quang H, Nguyễn Anh T, Lưu Việt A1, Nguyễn Xuân B1, Trần Hữu V, Tạ Quang Phương H7 và Nguyễn Tiến Đ đã cùng nhau điều khiển xe máy mang theo hung khí đi tìm gặp nam thanh niên tên Tuấn H8 để giải quyết mâu thuẫn. Trong quá trình di chuyển từ khu vực cổng làng Đ ra các tuyến đường T - A - S - Đại lộ T - Quay đầu về A - H - T - H - A - S - Đại Linh các bị cáo điều khiển xe máy, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau, kéo hung khí trên mặt đường gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, Trần Văn Q, Nguyễn Hữu Duy M, Nguyễn Viết Nhật L, Đặng Hoàng L1, Nguyễn Đình Quang H, Nguyễn Anh T, Nguyễn Tiến Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Trong các bị cáo kháng cáo, trừ bị cáo T đã đủ 18 tuổi, các bị cáo có kháng cáo còn lại đều dưới 18 tuổi, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nghiêm khắc, nên cần sửa bản án sơ thẩm.

- Đối với bị cáo Tuấn A: là người chủ mưu, rủ các bị cáo khác đi phạm tội, phân công bị cáo Q mua tuýp sắt mang về nhà bị cáo M cất giấu để phạm tội nên mức hình phạt của bị cáo là cao nhất. Chấp nhận kháng cáo của người bào chữa và người đại diện của cho bị cáo, giảm 1 phần hình phạt cho bị cáo.

- Đối với bị cáo Q: là người chủ động mua tuýp sắt, bị cáo M là người cất tuýp sắt tại nhà để đi gây rối, nên mức hình phạt của bị cáo Q và M là tương đương nhau. Chấp nhận kháng cáo của người đại diện của cho bị cáo, giảm 1 phần hình phạt cho bị cáo.

- Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T: nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo điều khiển xe máy, chở H9 (chưa xác định được lai lịch) đi gây rối trật tự công cộng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình đơn xin xác nhận của UBND xã B về việc bị cáo là lao động chính, đã bị tai nạn phải đi phẫu thuật, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, từ tháng 7/2024 đến nay không đi làm được và phải có người chăm sóc; bị cáo có anh ruột bị tật nguyền, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Mặt khác, hiện nay bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

- Đối với bị cáo Nguyễn Đình Quang H, Nguyễn Tiến Đ đi xe máy chở các bị cáo khác đi gây rối, chưa gây hậu quả nguy hiểm. Hiện nay bị cáo H đang đi học, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, nên chấp nhận kháng cáo của người đại diện cho bị cáo.

- Đối với bị cáo Đặng Hoàng L1: cầm dao phóng ngồi sau bị cáo B1 để đi gây rối; bị cáo Nguyễn Viết Nhật L: cầm dao phóng ngồi sau bị cáo Việt A1 đi gây rối. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người đại diện của bị cáo.

Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Tuấn A về việc trả lại cho bị cáo: Xét thấy, tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên trả lại điện thoại cho bị cáo, không có kháng cáo, kháng nghị đối với điện thoại của Tuấn A nên án sơ thẩm có hiệu lực thi hành, HĐXX không xem xét.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T, bị cáo Nguyễn Tiến Đ, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Văn Q, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hữu Duy M, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Viết Nhật L, bị cáo Đặng Hoàng L1, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đặng Hoàng L1, người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Đình Quang H; sửa bản án sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

[2]. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Tuấn A, Q, M.

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Tuấn A 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.

2.2. Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.

2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Duy M 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo T.

2.4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Giao bị cáo về UBND xã B, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nhật L, Hoàng L1, H, Đ.

2.5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Nhật L 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Giao bị cáo về UBND phường M, quận N, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

2.6. Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng L1 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Giao bị cáo về UBND phường T, quận N, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

2.7. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Quang H 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Giao bị cáo về UBND phường T, quận N, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2.8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Giao bị cáo về UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

[3]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKS thành phố Hà Nội;
  • Công an, VKS, Tòa án, Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm;
  • Các bị cáo; người đại diện theo pháp luật, người bào chữa cho các bị cáo;
  • Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 559/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 559/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSPT - Nguyễn Đình Tuấn Anh và đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger