Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 559/2024/DS-PT

Ngày: 11/09/2024

V/v: Tranh chấp khoảng không trên đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Nam;

Bà Ngô Tuyết Băng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức -Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Trần Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 09 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 351/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp khoảng không trên đất”.

Do Bản án sơ thẩm số 98/2023/DS-ST ngày 15/06/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 560/2024/QĐ-PT ngày 20/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 576/2023/QĐHPT-PT ngày 11/12/2023; Thông báo về về việc mở lại phiên tòa số 377/2024/TB-DS ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Mai Thị Nhật L, sinh năm: 1967;
    2. Ông Trần Anh T, sinh năm 1962;

    Cùng ĐKHKTT: Số A Ngõ D K, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo uỷ quyền của bà L, ông T: Bà Mai Thị Diễm H, sinh năm 1980; nơi ở: C K, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội (theo giấy ủy quyền ngày 13/12/2022).

  2. Bị đơn: Bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1949; địa chỉ: Căn hộ E tầng Khu tập thể B - Ngõ D phố K, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo uỷ quyền của bà T1: Anh Phùng Văn T2, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà B ngách B ngõ T, quận T, Thành phố Hà Nội.
  3. Người kháng cáo: Bà Đoàn Thị T1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Gia đình ông Trần Anh T và bà Mai Thị Nhật L là chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở tại địa chỉ số A Ngõ D phố K, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là số 14, ngõ D phố K) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là GCNQSDĐ) số BC235231, số vào sổ cấp GCN: CH000149 do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hà Nội cấp ngày 24/06/2010, diện tích đất ở sử dụng riêng: 82,2m².

Năm 2015, ông T và bà L có nhu cầu xây dựng lại phần diện tích 37,5m² phía sau của căn nhà trên thửa đất nêu trên. Ngày 17/12/2015, ông T và bà L được Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy phép xây dựng số 765/GPXD-UBND gồm các nội dung: Vị trí xây dựng trên thửa đất có diện tích 82,2m² tại địa chỉ số A, ngõ D phố K Quy mô công trình: Nhà ở 03 tầng tổng diện tích xây dựng 92,5m².

Sau khi tháo dỡ ngôi nhà cũ, ông T và bà L phát hiện thấy chủ sở hữu căn hộ liền kề với thửa đất phía bên khu Khu tập thể Ban Đối Ngoại - Ngõ D phố K trong đó có bà Đoàn Thị T1 - Chủ sở hữu căn hộ số 503 nhà 5 tầng Khu tập thể B - ngõ D phố K, phường N đã lấn chiếm khoảng không của nhà số A, ngõ D phố K Cụ thể là từ lô gia của căn hộ đua ra một lồng sắt lưới B40 chứa cục nóng điều hòa; lồng sắt này nằm trọn trong phần không gian của nhà nhà số 14, ngõ D phố K khiến cho công trình xây dựng của gia đình ông T và bà L không thể xây tường bao phía sau nhà và không đổ được bê tông phần dầm mái.

Kể từ khi phát hiện ra việc lấn chiếm khoảng không nêu trên, ông T và bà L đã thông qua người đại diện theo uỷ quyền nhiều lần gửi đơn yêu cầu UBND phường N tổ chức xử lý và yêu cầu các chủ sử sở hữu căn hộ vi phạm nêu trên tháo dỡ phần lấn chiếm. Tuy nhiên, sau nhiều lần UBND phường N có tổ chức các cuộc họp tại tổ dân phố nhằm vận động gia đình bà T1 nhưng bà T1 không hợp tác chấp hành. Các công trình của bà T1 là vi phạm điều 12 Luật Xây dựng 2014; Điều 174, 175 Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông T và bà L.

Ông T và bà L đề nghị Toà án giải quyết: Buộc bà Đoàn Thị T1 - Chủ sở hữu căn hộ số 503 khu tập thể 5 tầng Ban Đối ngoại, ngõ D phố K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội phải tháo dỡ toàn bộ phần lồng sắt lấn chiếm, trả lại khoảng không trên thửa đất tại địa chỉ số A ngõ D phố K, thuộc sở hữu của gia đình ông T và bà L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Bà Đoàn Thị T1 là chủ căn hộ 503 nhà 5 tầng Khu tập thể B - Ngõ D phố K Căn hộ chung cư này bà Đoàn Thị T1 được cấp năm 1991 đến năm 2006 mới được cấp GCNQSDĐ với diện tích 37m². Sau khi nhận nhà thì bà T1 có làm chuồng cọp phía sau ban công vào năm 1991 để chống trộm cắp bảo vệ tài sản của gia đình. Phần chuồng cọp này không nằm trong diện tích đất bà T1 được cấp GCNQSDĐ nhưng nằm trong

phần đất lưu không của tập thể vì phần chuồng cọp này là do lịch sử để lại. Bà T1 không nắm được phần đất lưu không cụ thể kích thước bao nhiêu. Phần đất ở dưới chung cư đều cách các hộ dân tầm 2,5m. Khi nhà ông T và bà L xây nhà lên thì xây sát vào mái nhà 5 tầng của khu tập thể. Do vậy, đã xây sát lên phần chuồng cọp nhà bà T1 và yêu cầu gia đình bà T1 tháo bỏ chuồng cọp. Ông T và bà L xây vào phần đất lưu không của chung cư chứ không xây chiếm vào phần đất bà T1 được cấp GCNQSDĐ.

Nhà ông T và bà L trước đây được phân 35m², sau đó lấn chiếm phần phía sau là 66m² và chiếm nốt 15,7m² là phần đất lưu không của khu tập thể. Khi nhà ông T bắt đầu khởi công xây dựng, bà T1 đã có đơn kiến nghị, UBND phường đã yêu cầu gia đình ông T bà L xây lùi vào để trả cho bà con khoảng không, gia đình ông T và bà L không đồng ý và cho rằng GCNQSDĐ được cấp đến đâu thì ông T và bà L có quyền xây đến đó. Do vậy, UBND phường không can thiệp được.

Bà T1 đã nhận được kết quả đo đạc của gia đình bà và gia đình nhà ông T, bà L. Đối với kết quả đo đạc bà T1 không ý kiến. Phần diện tích thực tế căn hộ của bà T1 hiện nay theo kết quả đo đạc là 49m², lý do tăng hơn so với GCNQSDĐ là bà T1 có đua ra ban công phía trước là 0,6m chuồng cọp. Bà T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét việc cấp GCNQSDĐ của ông T bà L. Bà T1 đề nghị hủy GCNQSDĐ do UBND quận B đã cấp cho ông T và bà L.

Tại Bản án sơ thẩm số 98/2023/DS-ST ngày 15/06/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L đối với bà Đoàn Thị T1 về việc tranh chấp khoảng không trên đất.
  2. Buộc bà Đoàn Thị T1 - căn hộ 503 nhà 5 tầng Khu tập thể B - Ngõ D phố K phải tháo dỡ toàn bộ phần lồng sắt lấn chiếm ngoài diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trả lại khoảng không trên thửa đất tại địa chỉ số A ngõ D phố K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội thuộc sở hữu của gia đình ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Về án phí: Bà Đoàn Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002833 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Sau phiên tòa sơ thẩm, ngày 29/06/2024 Toà án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của ông Phùng Văn T2 - là người đại diện theo uỷ quyền của bà Đoàn Thị T1.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Ông Phùng Văn T2 trình bày:

Tại phiên toà hôm nay, ông nộp bổ sung cho Hội đồng xét xử các tài liệu bản phô tô gồm: Quyết định số 969/QĐ-UBND ngày 22/04/204 của UBND quận B; Công văn số 10440/VP-BTCD ngày 26/08/2024 của UBND Thành phố H; mặt bằng tập thể Ban đối ngoại Trung ương và 05 ảnh.

Ngày hôm nay, ông đề nghị hoãn phiên toà vì đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vắng mặt và ông cũng như các hộ dân đang chờ cơ quan Nhà nước giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị T3 liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Anh T và bà Mai Thị Nhật L.

Về phần nội dung: Ông vẫn giữ nguyên kháng cáo, không đồng ý với bản án sơ thẩm vì: Lồng sắt có trước, GCNQSDĐ của ông T, bà L có sau và ông T, bà L được cấp GCNQSDĐ khi các hộ dân của Khu tập thể Ban đối ngoại Trung ương không ký giáp ranh là sai. Hơn nữa, Giấy phép xây dựng của nhà ông T chỉ xây 03 tầng mà lại yêu cầu gia đình ông tháo chuồng cọp tại tầng 5 là không đúng. Mẹ ông - bà T1 là người cao tuổi nên đề nghị được miễn án phí

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình diễn biến tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:

Về sự tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên về phần nội dung của bản án sơ thẩm, sửa án phí vì bà T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí; giữ nguyên các nội dung khác của bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:
    1. Về kháng cáo:

      Tại phiên toà ngày 15/06/2023, có mặt ông Phùng Văn T2; ngày 29/06/2023, Toà án sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo đề ngày 29/06/2023 của ông Phùng Văn T2, ông T2 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo thông báo của Toà án sơ thẩm.

      Do đó kháng cáo đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    2. Về có mặt của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm:

      Các đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ đến tham gia phiên toà lần thứ tư. Tại phiên tòa phúc thẩm, có mặt ông Phùng Văn T2; vắng mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn - bà Mai Thị Diễm H, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

      Xét yêu cầu hoãn phiên toà của ông Phùng Văn T2: Hội đồng xét xử nhận thấy,

bà Mai Thị Diễm H có đơn xin xét xử vắng mặt không thuộc trường hợp hoãn phiên toà theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố dụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử nhận thấy, Công văn số 10440/VP-BTCD ngày 26/08/2024 của Văn phòng UBND thành phố H là Công văn chỉ đạo UBND quận B về quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (không thuộc trường hợp thụ lý giải quyết theo quy định của Luật khiếu nại); không phải Quyết định giải quyết lần hai và chưa giải quyết về nội dung việc cấp GCNQSDĐ cho ông T, bà L. Do vậy, không có căn cứ để hoãn phiên toà.

  1. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phùng Văn T2:

    Hội đồng xét xử nhận thấy,

    Ngày 24/06/2010, ông Trần Anh T và bà Mai Thị Nhật L được cấp GCNQSDĐ đối với quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ số A, ngõ D, phố K, diện tích đất ở sử dụng riêng là 82,2m².

    Ngày 17/12/2015, ông T, bà L được UBND quận B cấp Giấy phép xây dựng số 765/GPXD-UBND xây dựng trên thửa đất có diện tích 82,2m² tại địa chỉ số A ngõ D phố K, nhà ở 3 tầng tổng diện tích xây dựng 92,5m².

    Do giữa gia đình ông T, bà L và các hộ Khu tập thể Ban đối ngoại Trung ương có tranh chấp nên chính quyền UBND phường N, quận B, UBND thành phố H có nhiều cuộc họp, văn bản giải quyết cụ thể:

    Tại Kết luận nội dung tố cáo số 32/KL-UBND ngày 26/04/2018 của UBND Thành phố H có nội dung: Kết quả thu nhập xác minh thông tin, tài liệu đã rõ: Công ty TNHH MTV Q lập hồ sơ bán nhà theo Nghị định số 61/CP và cấp GCNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC235231 phù hợp với hồ sơ kỹ thuật thửa đất đo vẽ 2006 khi Ban Đối ngoại Trung ương bàn giao khu nhà cấp 4 - tập thể Ban Đối ngoại Trung ương ngõ D phố K,phường N, quận B cho Sở Tài Nguyên, Môi trường và Nhà đất và thực trạng sử dụng thửa đất (không có hồ sơ kỹ thuật thửa đất được Ban Đối ngoại Trung ương Đảng giao năm 1982); đơn đề nghị mua diện tích sử dụng ngoài quyết định phần nhà có xác nhận của các hộ liền kề, là thực hiện đúng quy định tại Điều 4 và Điều 10 Quyết định số 38/2005/QĐ-UB ngày 29/3/2005 của UBND Thành phố H về việc ban hành Quy trình bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang ở thuê theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ trên địa bàn Thành phố.

    Giữa các hộ nhà số A và nhà số 14 và giữa nhà số A và nhà số A tồn tại khe hở độ rộng trung bình là 7 cm, do đó không có căn cứ để xác minh việc cấp GCNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình ở số nhà A chồng lấn vào khu đất của nhà số A ngõ D phố K Toàn bộ việc lập hồ sơ, kiểm tra, đo vẽ hiện trạng nhà ở số A, thẩm định để cấp GCN QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông T, bà L do Công ty TNHH MTV Q thực hiện. Chủ tịch UBND quận B cấp GCN QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC235231 ngày 24/6/2010 cho ông Trần Anh T và vợ Là bà Mai Thị Nhật L tại nhà số A, ngõ D phố K, phường N trên cơ sở hồ sơ do Công ty TNHH MTV Q lập là phù hợp với quy định tại Mục 6, Điều 6 Quyết định số 38/2005/QĐ-UB ngày 29/3/2005 của UBND Thành phố

    H về việc ban hành quy trình bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ trên địa bàn Thành phố.

    Tại Công văn trả lời số 98 ngày 16/3/2023 của UBND phường N cung cấp có nội dung: Nhà đất của gia đình ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L và Khu tập thể Ban đối ngoại trước đây do Công ty TNHH MTV Q quản lý và thực hiện các thủ tục cấp GCNQSDĐ, do vậy UBND phường không có hồ sơ quản lý đối với phần đất lưu không nêu trên.

    Tại Công văn số 64 ngày 13.3.2023 của UBND quận B có nội dung: Việc lập hồ sơ, kiểm tra, đo vẽ hiện trạng, thẩm định hồ sơ bán nhà và đề nghị cấp GCNQSDĐ của các hộ tại tập thể Ban đối ngoại Trung ương ngõ 409 do Công ty TNHH MTV Q thực hiện. UBND quận B cấp GCNQSDĐ số BC 235231 cho ông T, bà L trên cơ sở hồ sơ do Công ty TNHH MTV Q lập là phù hợp với quy định tại Mục 6, Điều 6 Quyết định số 38/2005/QĐ-UB ngày 19/3/2005 của UBND Thành phố H về việc ban hành quy trình bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang ở thuê theo NĐ 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

    Tại Công văn số 2003/UBND-TNMT ngày 31/10/2022 của UBND quận B có nội dung: Năm 2015, hộ gia đình bà L, ông T đã lập hồ sơ xin phép xây dựng công trình căn cứ vào GCNQSDĐ. UBND quận B kiểm tra, xem xét và cấp Giấy phép xây dựng số 765/GPXD ngày 17/12/2015 cho hộ ông T bà L là phù hợp với quy định tại Mục 3, Điều 103 Luật xây dựng năm 2014. Diện tích đất của hộ bà L, ông T không chồng lấn vào diện tích của các hộ liền kề, không xâm phạm vào công trình ngầm nào khác.

    Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã khẳng định lồng sắt đua ra phía ngoài không nằm trong diện tích đất gia đình bà T1 được cấp GCNQSDĐ, phần lồng sắt đua ra nằm trên đất lưu không của khu tập thể.

    Trong GCNQSDĐ đối với các căn hộ tại Tập thể Ban đối ngoại TW, ngõ D K có ghi nhận phần đất lưu không xung quanh khu tập thể. Nhưng tại biên bản bàn giao nhà ở, đất ở đối với nhà 5 tầng Khu tập thể Ban đối ngoại ngõ 409 Kim Mã lập ngày 23/6/2006 thì hồ sơ đất của khu nhà đã bị thất lạc nên không xác định được diện tích khoảng lưu không của khu nhà là bao nhiêu. Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn không có tài liệu nào để làm rõ được khoảng lưu không của khu tập thể là bao nhiêu mét.

    Tại Công văn số 285 ngày 24/5/2023 của Phòng quản lý đô thị UBND quận B có nội dung: Việc cấp giấy phép xây dựng số 765 ngày 17/12/2015 cho hộ ông T, bà L tại địa chỉ số A ngõ D K là phù hợp với quy định tại Mục 3 Điều 103 Luật Xây dựng 2014. Diện tích đất của ông T bà L không lấn vào diện tích các hộ liền kề, không xâm phạm vào công trình ngầm nào khác.

    Xét trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ đã được UBND quận B cấp cho ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông T, bà L là có căn cứ. Cần buộc bà Đoàn Thị T1 - chủ sở hữu căn hộ 503 khu tập thể 5 tầng Ban Đối ngoại, ngõ D phố K, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội phải tháo dỡ

    toàn bộ phần lồng sắt lấn chiếm, trả lại khoảng không trên thửa đất tại địa chỉ số A, ngõ D phố K, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội cho gia đình ông T và bà L.

    Quá trình giải quyết vụ án. bà T1 có đơn phản tố đề nghị Tòa án hủy GCNQSDĐ mà UBND quận B đã cấp cho ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L trong khi lồng sắt đua ra phía ngoài không nằm trong diện tích đất gia đình bà T1 được GCNQSDĐ nên bà T1 không có quyền phản tố. Vì vậy Tòa án sơ thẩm đã không thụ lý yêu cầu phản tố của bà T1 là có căn cứ.

  2. Về án phí:
    1. Về án phí sơ thẩm: Do nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà Đoàn Thị T1 phải chịu án phí sơ thẩm. Tuy nhiên, bà T1 sinh năm 1949 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm, cần sửa bản án sơ thẩm về án phí.
    2. Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

    Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Điều 271, Điều 272, Điều 273, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đoàn Thị T1; sửa Bản án sơ thẩm số 98/2023/DS-ST ngày 15/06/2023 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về án phí; cụ thể như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L đối với bà Đoàn Thị T1 về việc tranh chấp khoảng không trên đất.
  2. Buộc bà Đoàn Thị T1 - chủ sở hữu căn hộ 503 khu tập thể 5 tầng Ban Đối ngoại, ngõ D phố K, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội phải tháo dỡ toàn bộ phần lồng sắt lấn chiếm ngoài diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trả lại khoảng không trên thửa đất tại địa chỉ số A ngõ D phố K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội thuộc sở hữu của gia đình ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  1. Về án phí: Bà Đoàn Thị T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; được nhận lại số tiền đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0008019 ngày 13 tháng 07 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án./

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nơi nhận:

  • - VKS NDTP Hà Nội;
  • - TAND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 559/2024/DS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp khoảng không trên đất

  • Số bản án: 559/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp khoảng không trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp khoảng không trên đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger