Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 558/2024/HS-ST

Ngày: 03-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Quang Việt
  2. Ông Nguyễn Thành Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Huy Phương– Kiểm sát viên.

Ngày 03/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 918/2024/TLST-HS, ngày 07/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5930/2024/TLST-HS, ngày 13/11/2024 và Thông báo dời ngày xét xử số 17168/2024/HSST-QĐ ngày 25/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Minh P, sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 102/17/25 Đường A, Phường Y, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 324F Đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh M và bà Nguyễn Thị U; hoàn cảnh gia đình: Có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt giam từ ngày 16/03/2024 (Có mặt).

  2. Đỗ Kim L, sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Số 15 Đường T, Phường V, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 115/13A đường L, phường K, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Kim H và bà Nguyễn Thị Tuyết A; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/11/2021, bị Toà án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản";

    Bị cáo bị bắt giam từ ngày 16/03/2024 (Có mặt).

Người bào chữa: Ông Nguyễn Văn Q, luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Quốc thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Lê Minh P (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 10 phút, ngày 15/03/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Củ Chi phối hợp với Công an xã Trung An tuần tra trên địa bàn xã Trung An. Khi đến trước nhà số 25A đường Trung An, ấp Hội Thạnh, xã Trung An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện Đỗ Kim L và Lê Minh P đang đi bộ có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiên trong túi quần bên phải phía trong của L có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,1841 gam loại Methamphetamine và trong quần lót của P có 01 túi vải chứa 03 gói nylon là ma túy ở thể rắn có khối lượng 10,4886 gam loại Methamphetamine; 01 gói nylon có khối lượng 1,4767gam là ma túy ở thể rắn loại Ketamine và 04 viên nén có khối lượng 1,4516 gam là ma túy ở thể rắn loại MDMA, Ketamine. Công an huyện Củ Chi tiến hành niêm phong, thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên, đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, P.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L tại 115/13A đường L, phường K, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả không thu giữ gì.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của P tại 324F Đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ 10 gói nylon có khối lượng 53,6179 gam là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, 02 gói nylon chứa chất bột có khối lượng 56,7856 gam (không tìm thấy ma túy), 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cân điện tử, 01 quẹt ga, 02 đoạn ống nhựa, 01 túi giấy, 55 gói nylon không chứa gì.

Tại cơ quan điều tra L và P khai là bạn bè quen biết, L biết P có bán ma túy. Ngày 13/3/2024, L đến nhà P tại địa chỉ: 324F Đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh mua 500.000 đồng ma túy loại Methamphetamine để sử dụng và L đã sử dụng hết số ma túy đã mua này.

Lúc 14 giờ 00 phút ngày 15/03/2024, có 01 thanh niên (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Messenger tên “Minh Tuấn” gọi cho L qua Messenger “Long Kim Đô” hỏi mua ma túy loại Methamphetamine với giá 8.000.000 đồng. L đồng ý bán và hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, L đến nhà P nói cho P biết có người thỏa thuận mua ma túy với giá 8.000.000 đồng và kêu P mang ma túy cùng với L đến huyện Củ Chi để bán cho khách, P đồng ý. Khi đi L cất giấu 01 gói ma túy loại Methamphetamine trong ví da để ở túi quần bên phải của L đang mặc mục đích để sử dụng và bán (P không biết về gói ma túy này của L). Khi L đến

nhà, P kêu L đứng ngoài chờ còn P vào phòng lấy 03 gói ma túy loại Methamphetamine để đem đi bán cho khách của L và 01 gói ma túy loại Ketamine cùng với gói nylon chứa 04 viên thuốc lắc loại MDMA, Ketamine (mục đích để P chào hàng, L không biết về số ma túy này). P bỏ tất cả số ma túy vào túi vải màu đỏ cất giấu bên trong quần lót P đang mặc. Sau đó L và P thuê xe ô tô đi đến huyện Củ Chi để giao bán ma túy cho một người đàn ông tên “Minh Tuấn” như đã thỏa thuận. Đến điểm hẹn, L và P xuống xe đi bộ nhưng khi đi đến nhà số 25A đường Trung An thuộc ấp Hội Thạnh, xã Trung An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Ngoài ra, P khai toàn bộ số ma túy thu giữ là của P mua của một người đàn ông tên V (không rõ lai lịch) tại khu vực Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và P đã 02 lần mua ma túy của V, lần đầu mua với giá 10.000.000 đồng, lần sau mua với giá 20.000.000 đồng. P trực tiếp nhận ma túy và thanh toán bằng tiền mặt cho V và V đưa thêm cho P 04 viên thuốc lắc để P giới thiệu cho khách mua. Khi mua được ma túy P đem về phân ra thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời.

Vật chứng ma túy thu giữ đã được giám định thể hiện tại Kết luận giám định số 3621/KL-KTHS ngày 23/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản cáo trạng số 687/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 25/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Minh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Đỗ Kim L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích, đánh giá những chứng cứ xác định hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Lê Minh P từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Đỗ Kim L từ 08 đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng.

Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh P trình bày: Luật sư thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo P. Luật sư chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo P có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, suy nghĩ bồng bột, về hoàn cảnh, bị cáo không có sự quan tâm chăm sóc của cha do cha mẹ ly hôn sớm, bị cáo còn có con nhỏ đang tuổi ăn học và mẹ già đã trên 60 tuổi. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo P mức án nhẹ nhất trong khung hình phạt để bị cáo P có cơ hội làm lại cuộc đời.

Bị cáo P đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư và không bào chữa bổ sung.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tranh luận đối đáp: Giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Các bị cáo và người bào chữa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của các bị cáo:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án đã có cơ sở xác định:

Các bị cáo Lê Minh P, Đỗ Kim L đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cụ thể vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 15/3/2024, tại trước nhà số 25A đường Trung An, ấp Hội Thạnh, xã Trung An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, khi các bị cáo P, L đang đi giao ma túy thì bị bắt quả tang, thu giữ trong người của các bị cáo có ma túy (thu giữ của L 1,1841 gam ma túy loại Methamphetamine và thu giữ của P 10,4886 gam ma túy loại Methamphetamine; 1,4767 gam ma túy Ketamine và 1,4516 gam ma túy ở thể rắn loại MDMA, Ketamine). Khám xét chỗ ở của P thu giữ thêm 53,6179 gam ma túy loại Methamphetamine.

Theo đó, bị cáo P phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng ma túy gồm: 64,1065 gam ma túy loại Methamphetamine (10,4886 gam thu giữ lúc bắt quả tang và 53,6179 thu giữ khi khám xét); 1,4767 gam ma túy loại Ketamine và 1,4516 gam ma túy loại MDMA, Ketamine. Như vậy, bị cáo P có hành vi mua bán 02 chất ma túy trở lên.

Bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng 11,6727 gam ma túy loại Methamphetamine (gồm 10,4886 gam thu giữ của L và P khi đem đi bán và 1,1841 gam thu giữ trong bóp da của L khi bị bắt quả tang).

Xét bị cáo P đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp “có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” (khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự); bị cáo L có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam".

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Minh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; truy tố bị cáo Đỗ Kim L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn, xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L theo cáo trạng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo hồ sơ bị cáo L có mua 1,1 gam ma túy của một người phụ nữ để sử dụng và bán lại, sau đó, bị cáo tiếp tục cùng P thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý 10,4886 gam vào ngày 15/3/2024 và bị bắt quả tang. Do đó, bị cáo L thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo P khai 02 lần mua ma túy của đối tượng tên V, trong đó ngày 10/3/2024 mua 10 triệu đồng nhưng đã sử dụng hết, lần 02 mua 20 triệu đồng và đi bán cùng bị cáo L thì bị bắt như trên. Đối với lần mua ma túy ngày 10/3/2024 ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh bị cáo mua ma túy. Đối với lần bán ma túy cho L, do L đã sử dụng hết, ngoài lời khai của các bị cáo thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh, do đó, không có căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Đối với bị cáo L không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, ngày 26/11/2021, đã bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng cũng cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo L.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các lập luận trên là căn cứ để chấp nhận hay không chấp nhận luận cứ bào chữa của luật sư, quan điểm của Viện kiểm sát và lời trình bày của các bị cáo tại phiên tòa.

[4] Đối với các đối tượng khác:

Đối với đối tượng V là người bán ma túy cho P. Do P khai không rõ nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xem xét xử lý.

Đối với người thanh niên sử dụng tài khoản Messenger tên Minh Tuấn gọi cho L để mua ma túy. Do L không khai rõ nhân thân, lai lịch. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh xử lý.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo L, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở xử lý.

[5] Hình phạt bổ sung:

Do các bị cáo chưa thu lợi bất chính nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) gói niêm phong mang số vụ 1083/24, bên ngoài có chữ ký của Cán bộ điều tra Nguyễn Mạnh G và Giám định viên Nguyễn Văn Út Q, bên trong là ma túy còn lại sau giám định, Gói 1, Mã số NP1/105BB/2025; 02 (hai) gói niêm phong mang số vụ 1083/24, bên ngoài có chữ ký của Cán bộ điều tra Nguyễn Mạnh G và Giám định viên Nguyễn Văn Út Q, bên trong là ma túy còn lại sau giám định, Gói 2, Gói 3, Mã số NP2/105BB/2025, là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung-Đỗ Kim L (lưng bể nát, màn bể, SM-N950F, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), Mã số DT1/105BB/2025. Bị cáo L sử dụng làm phương tiện liên lạc mua bán ma túy, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  • Đối với 01 (một) ví da, Mã số VI/105BB/2025, là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung-Lê Minh P (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), Mã số DT2/105BB/2025 và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO – Lê Minh P (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), Mã số DT3/105BB/2025, là điện thoại của bị cáo P, sử dụng liên lạc mua bán ma túy, là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  • Đối với 01 (một) túi vải; 01 (một) túi giấy; 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) quẹt ga, 02 (hai) đoạn ống nhựa có đầu vác nhọn; 55 (năm mươi lăm) gói nylon không chứa gì, Mã số LT/105BB/2025, là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

  • Đối với 01 (một) cân điện tử, Mã số CAN/105BB/2025, là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Xử phạt: Bị cáo Lê Minh P 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.

  2. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Xử phạt: Bị cáo Đỗ Kim L 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2024.

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    * Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) gói niêm phong mang số vụ 1083/24, bên ngoài có chữ ký của Cán bộ điều tra Nguyễn Mạnh G và Giám định viên Nguyễn Văn Út Q, bên trong là ma túy còn lại sau giám định, Gói 1, Mã số NP1/105BB/2025;
    • 02 (hai) gói niêm phong mang số vụ 1083/24, bên ngoài có chữ ký của Cán bộ điều tra Nguyễn Mạnh G và Giám định viên Nguyễn Văn Út Q, bên trong là ma túy còn lại sau giám định, Gói 2, Gói 3, Mã số NP2/105BB/2025;
    • 01 (một) ví da, Mã số VI/105BB/2025;
    • 01 (một) túi vải; 01 (một) túi giấy; 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) quẹt ga, 02 (hai) đoạn ống nhựa có đầu vác nhọn; 55 (năm mươi lăm) gói nylon không chứa gì, Mã số LT/105BB/2025;

    * Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

    • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung-Đỗ Kim L (lưng bể nát, màn bể, SM-N950F, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), Mã số DT1/105BB/2025;
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung-Lê Minh P (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), Mã số DT2/105BB/2025;
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO – Lê Minh P (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong), Mã số DT3/105BB/2025;
    • 01 (một) cân điện tử, Mã số CAN/105BB/2025;

    Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/105 ngày 28/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND Tp.HCM; (3)
  • - Cục THA DS Tp.HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM; (1)
  • - Trại giam; (4)
  • - Bị cáo; (2)
  • - THAHS TAND TP.HCM; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP.HCM; (1)
  • - Ủy ban nơi bị cáo cư trú; (2)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoài Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 558/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 558/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh P 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Lê Minh P 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger