TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 558/2024/HS-ST
Ngày: 07-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thanh Giàu
- Ông Phạm Văn Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 535/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 601/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Trần Anh K, sinh ngày: 14/9/1990 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Lê Văn H, sinh năm: 1965 và bà Trần Thị C, sinh năm: 1967; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn; vợ bị cáo: Trương Thị Ngọc T; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/4/2024; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Đức M, sinh năm: 1995, địa chỉ: A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1962, địa chỉ: 1 Đường số D, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 27/04/2024 tổ tuần tra 363 Công an thành phố Thủ Đức tuần tra đến trước số G, đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Lê Trần Anh K điều khiển xe mô tô biển số 60B2 – 408.08 chở Trương Đức N1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra; tại thời điểm kiểm tra phát hiện ở túi phía trước bên phải của quần mà Lê Trần Anh K đang mặc có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, K khai nhận là ma túy nên tổ 363 tiến hành bàn giao cho Công an phường T, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng vụ án:
- + 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ ở túi phía trước bên phải của quần mà Lê Trần Anh K đang mặc.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung (đã qua sử dụng).
Kết luận giám định số 5249/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K1, Công an Thành phố H kết luận:
01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Trần Anh K và hình dấu Công an phường T, thành phố T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4861g (hai phẩy bốn tám sáu một gam), loại Methamphetamine
Tại cơ quan điều tra Lê Trần Anh K và Trương Đức N1 khai nhận:
Từ năm 2021 Lê Trần Anh K vào làm nhân viên cho Công ty Q địa chỉ 144 đường T, phường T, thành phố T, đến tháng 2/2024 K giới thiệu Trương Đức N1 (là bạn cùng quê) vào công ty làm chung, khi làm việc K và N1 được trả lương, bao ăn ở tại công ty, cả hai được bố trí ngủ tại phòng trống gác lửng tại công ty. Khi K sử dụng ma tuý đá tại phòng ngủ thì N1 thấy, N1 cầm bình sử dụng ma tuý đá của K sử dụng, lúc này K mới biết N1 cũng sử dụng ma tuý nên để mặc cho N1 sử dụng ma tuý còn lại trong bình. Sau đó, khi K đi mua ma tuý về sử dụng thì K rủ N1 đi cùng, N1 đã cùng K đi mua ma tuý được 03 (ba) lần, K là người nhắn tin hỏi mua ma túy rồi mượn xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen xanh biển số 60B2-408.08 của Dương Đức M và điều khiển xe chở N1 đến chân cầu vượt Q, K để N1 đứng đợi ở ven đường, K sẽ điều khiển xe đi gặp người đàn ông có khoản Zalo tên “Trân Ty” mua ma tuý, K cất giấu ma tuý trong người rồi quay lại đón N1 đi về. N1 biết K mua ma tuý nhưng không biết giá bao nhiêu nên sẽ đợi khi nào K sử dụng ma tuý thì sẽ lấy bình hút ma tuý đá của K lên sử dụng. Kiệt đợi khi nào trong phòng ngủ không có ai hoặc đi ngủ hết thì sẽ lấy ma tuý đá bỏ vào bình sử dụng, khi K đang sử dụng ma tuý thì Trương Đức N1 nằm bên cạnh biết và dậy sử dụng ma tuý cùng K, sử dụng ma tuý xong thì K cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy vào balo đựng quần áo của K, nếu mọi người còn thức thì K vào nhà vệ sinh để sử dụng ma tuý và cất giấu bình sử dụng ma tuý trong bồn xả nước của bồn cầu (bồn nước bị hư, không có nước) đợi mọi người đi ngủ thì sẽ lấy bình sử dụng cất giấu vào balo đựng quần áo của K, N1 không thấy bình hút trong balo của K thì hỏi và được K chỉ đến nhà vệ sinh để lấy bình hút ma tuý sử dụng.
Kết quả xét nghiệm ma tuý của K và N1 là Dương tính (MET).
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) gói niêm phong vụ số: 1621/24. Bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone không gắn sim, là tài sản của K dùng để sử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin liên hệ mua ma tuý.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu S, có sim số 0908282175, là tài sản của K dùng để liên lạc với gia đình.
- - 01 (một) xe môtô biển số 60B2-408.08, có số máy: 5C6H213042, số khung: RLCS5C6H0GY213040. Theo kết quả xác minh xe biển số 60B2-408.08 do ông Lê Viết L (Sinh năm 1978, Nơi thường trú: Ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai) đứng tên đăng ký chủ sở hữu vào ngày 04/5/2016. Tuy nhien, qua làm việc, ông L khẳng định bản thân không đăng ký sở hữu xe Yamaha Sirius màu đen xanh biển số 60B2-408.08, việc có xe trên ông L không biết. Tiến hành làm việc với Dương Đức M, được biết vào năm 2022 M đi về quê ở Đồng Nai, đã đến cửa hàng mua bán xe cũ (không nhớ địa chỉ cửa hàng) mua xe biển số 60B2-408.08 với giá 9.000.000 đồng, khi mua xe có làm giấy mua bán xe và nhận giấy đăng ký xe, đến nay M đã làm mất giấy mua bán xe, M chưa làm thủ tục sang tên xe. K khai nhận vào chiều tối ngày 27/4/2024 K gặp anh Dương Đức M mượn xe đi ăn cơm cùng N1. Anh M không biết sự việc K sử dụng để làm phương tiện phạm tội.
Cáo trạng số 498/CT-VKSTPTĐ ngày 15/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Trần Anh K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Lê Trần Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Lê Trần Anh K từ 02 năm 06 sáu tháng đến 03 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 03 năm đến 03 năm 06 sáu tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt của cả 2 tội là từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong vụ số: 1621/24. Bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone không gắn sim; Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu S, có sim số 0908282175; Giao Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) xe môtô biển số 60B2-408.08, có số máy: 5C6H213042, số khung: RLCS5C6H0GY213040 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
- - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Dương Đức M vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt ông M không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và quyền lợi của ông M nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên vắng mặt ông M theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Trần Anh K phù hợp với nội dung: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 27/4/2024 của Công an phường T, thành phố T; Kết luận giám định số 5249/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định:
Ngày 27/04/2024, K mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng của người đàn ông có khoản Zalo tên “Trân Ty” (chưa rõ lai lịch) mang về sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an tuần tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng khối lượng ma túy là 2,4861g gam, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Trước đó vào ngày 21/4/2024, Lê Trần Anh K cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho Trương Đức N1 sử dụng. Hành vi trên của Lê Trần Anh K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Lê Trần Anh K là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, không chỉ gây tổn hại đến sức khoẻ và tinh thần của người sử dụng mà còn làm phá sản về kinh tế của gia đình người nghiện và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo K không chỉ tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân mà bị cáo còn cung cấp ma túy và dụng cụ cho người khác cùng sử dụng, điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy do bị cáo Lê Trần Anh K thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu và lạm dụng chất ma túy, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người xung quanh. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đối với người đàn ông có khoản Zalo tên “Trân Ty” (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho K ở khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh truy tìm và xử lý sau.
Đối với Trương Đức N1 là người nghiện có hành vi sử dụng ma túy cùng K nhiều lần nhưng không góp tiền, không giúp sức trong việc đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Công an phường T lập hồ sơ xử lý theo quy định là có căn cứ.
Đối với việc K và N1 khai sử dụng ma túy nhiều lần trước đó nhưng không xác định K và N1 sử dụng ngày nào, chỉ có lời khai duy nhất của K và N1 là sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là có căn cứ.
Đối với ông Dương Xuân Đ là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Q, ông Đ có cho 02 nhân viên Trương Đức N1 và Lê Trần Anh K ở tại cửa hàng tại số G T, phường T, thành phố T để làm việc cho Công ty nhưng ông Đ không biết việc N1 và K sử dụng ma túy tại cửa hàng của mình nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông Đ.
Đối với ông Lê Viết L, theo kết quả xác minh (bút lục 70) ông L là người đăng ký sở hữu xe Yamaha Sirius màu đen xanh biển số 60B2-408.08 nhưng ông L có lời khai khẳng định ông không đăng ký sở hữu xe Yamaha Sirius màu đen xanh biển số 60B2-408.08. Do đó, Tòa án không triệu tập ông L tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
- - 01 (một) gói niêm phong vụ số: 1621/24. Bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone không gắn sim bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu S, có sim số 0908282175 thu giữ của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 (một) xe môtô biển số 60B2-408.08, có số máy: 5C6H213042, số khung: RLCS5C6H0GY213040. Qua xác minh xe đứng tên ông Lê Viết L nhưng ông L khẳng định ông không đăng ký sở hữu xe Yamaha Sirius màu đen xanh biển số 60B2-408.08. Anh Dương Đức M đã cho K mượn xe tối ngày 27/4/2024 nhưng không biết K sử dụng để làm phương tiện phạm tội. Theo lời khai của Dương Đức M thì M mua xe trên tại cửa hàng mua bán xe cũ (không nhớ địa chỉ cửa hàng) mua xe biển số 60B2-408.08 với giá 9.000.000 đồng, khi mua xe có làm giấy mua bán xe và nhận giấy đăng ký xe, chưa làm thủ tục sang tên xe; anh M có yêu cầu được nhận lại xe. Tuy nhiên, hiện nay M đã làm mất giấy mua bán xe. Do đó, giao Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) xe môtô biển số 60B2-408.08, có số máy: 5C6H213042, số khung: RLCS5C6H0GY213040 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Trần Anh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Lê Trần Anh K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- - Xử phạt bị cáo Lê Trần Anh K 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt của 02 tội là: 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2024.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong vụ số: 1621/24. Bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- - Trả lại cho bị cáo K 01 (một) điện thoại di động hiệu S, có sim số 0908282175.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone không gắn sim.
- - Giao Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) xe môtô biển số 60B2-408.08, có số máy: 5C6H213042, số khung: RLCS5C6H0GY213040 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 364/QĐ-VKS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 10/10/2024 và Phiếu nhập kho ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
4. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Trần Anh K phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 558/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 558/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hình phạt tù
