Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 558/2024/HS-ST

Ngày: 17/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Công Danh

2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 536/TLST-HS ngày 11 tháng 09 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 548/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 990/TB-TA ngày 30 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Uyên B. Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983, tại Đồng Nai.

Nơi ĐKTT: K5/40C, tổ 67, khu phố 3, phường Bửu Hoà, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

Nơi ở: Tổ 20B2, khu phố Cầu Hang, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: Lớp 05/12; Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Trần Minh T, sinh năm 1959 (còn sống).

Họ tên mẹ: Bùi Thị H, sinh năm 1962 (còn sống).

Gia đình có 03 anh em. Bị cáo là con thứ nhất.

Họ tên vợ: Đỗ Mai H1, sinh năm 1986. Bị cáo có 02 con, sinh năm 2011 và năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 05/01/2011, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 03/2011/HSST). Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 08/12/2011.

Ngày 22/5/2015, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Bản án số 251/2015/HSST). Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 03/11/2016.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 19/5/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 1016/LTG. Hiện bị cáo đang bị giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

+ Bị hại:

1. Anh Võ Văn Đ, sinh năm 1979

Địa chỉ: tổ 20B2, khu phố Cầu Hang, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2. Anh Lê Xuân H2, sinh năm 1982

Địa chỉ: tổ 20B2, khu phố Cầu Hang, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

3. Anh Lưu Minh K, sinh năm 1979

Địa chỉ; Tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(bị cáo có mặt; bị hại Đ, bị hại H2, bị hại Kiệt có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 18/05/2024, anh Võ Văn Đ, Lê Xuân H2, Lưu Minh K, Ngô Văn L, Huỳnh Quốc T1, Vũ Quang S tổ chức ăn uống và hát karaoke ở nhà của anh Vũ Quang S tại nhà không số thuộc tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, do nhóm anh Đ ăn nhậu và hát gây ồn ào trong khoảng thời gian dài nên ông Trần Minh T (là hàng xóm bên cạnh nhà anh S - sinh năm 1959, ngụ tại tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B) đi ra lớn tiếng chửi, yêu cầu ngừng hát. Thấy vậy anh Đ đi ra nói chuyện với ông T về việc ngày nghỉ cuối tuần xin hát đến 11 giờ sẽ nghỉ nhưng ông T không đồng ý dẫn đến hai bên xảy ra cãi vã.

Lúc này, Trần Uyên B (là con trai ông T) đi câu cá về đến nhà thấy sự việc trên. B cho rằng nhóm của anh Đ đòi đánh ông T nên B đi vào nhà B lấy 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm bằng kim loại, mũi nhọn đi sang nhà của anh S để đánh nhau với nhóm của anh Đ. Khi thấy B cầm dao đi vào cổng nhà anh S thì anh Ngô Văn L đã cầm 01 cây lau nhà chạy đến đánh 01 cái vào tay của B nhằm ngăn cản B xông vào chém người khác nhưng không rơi dao.

Sau khi bị anh L đánh 01 cái vào tay thì B lùi lại rồi tiếp tục cầm dao tự chế xông đến vị trí của nhóm anh Đ đang ngồi nhậu vung dao chém loạn xạ vào nhóm của anh Đ. B chém 01 nhát trúng vào sau lưng phía bên trái của anh Đ; chém 01 nhát trúng vào vùng trán bên trái và 01 nhát trúng vào vùng hông bên trái của anh Lê Xuân H2; chém 01 nhát trúng vào lưng và 01 nhát sau gối chân phải của anh Lưu Minh K. Thấy vậy, anh S đã can ngăn ôm B lại và đẩy B đi về nhà. Sau đó, Công an phường H, thành phố B lập biên bản sự việc và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 19/5/2024, anh Võ Văn Đ, anh Lưu Minh K và anh Lê Xuân H2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Quá trình điều tra bị cáo Trần Uyên B khai nhận hành vi phạm tội như trên.

*Vật chứng của vụ án:

- 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm, lưỡi bằng kim loại, cán dao bằng gỗ là hung khí Trần Uyên B dùng để chém các bị hại gây thương tích.

*Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0506/KLTTCT-TTPYĐN ngày 10/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lê Xuân H2:

1. Các kết quả chính: (Khám giám định, chuyên khoa, cận lâm sàng)

  • - Vết thương trán trái hình chữ “C” ngoài chân tóc kích thước 15x0,2cm. Tỷ lệ: 06%
  • - Vết thương hông lưng trái (trên cánh chậu trái) kích thước 12x0,2cm. Tỷ lệ 02%
  • - Mất bản ngoài xương sọ vùng trán trái kích thước 01x1,5cm. Tỷ lệ 05%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Xuân H2 - 1982 tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: Vật sắc.

*Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0475/KLTTCT-TTPYĐN ngày 27/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Võ Văn Đ:

1. Các kết quả chính: (Khám giám định, chuyên khoa, cận lâm sàng)

- Vết thương đang liền sẹo lưng trái kích thước 07x0,2cm. Tỷ lệ: 02%

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Văn Đ – 1979 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: Vật sắc.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0508/KLTTCT-TTPYĐN ngày 10/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Lưu Minh K:

1. Các kết quả chính: (Khám giám định, chuyên khoa, cận lâm sàng)

- Vết thương vùng cột sống thắt lưng kích thước 10x0,2cm. Tỷ lệ: 02%

- Vết thương vùng khoeo chân phải không thẳng hàng kích thước 7,5x0,2cm. Tỷ lệ 02%

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lưu Minh K - 1979 tại thời điểm giám định là: 04% (Bốn phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: Vật sắc.

* Tại bản Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0817/GĐHS/2024 ngày 22/8/2024 của Giám định viên Trung tâm pháp y thuộc Sở Y1 kết luận: Với các tổn thương của Lê Xuân H2 là: Vết thương hông lưng 10x5cm sâu tận xương cánh chậu, đứt cơ chéo bụng trong, cơ lưng; vết thương trán trái 3x4cm, gãy vát 1 phần xương sọ trán. Bệnh nhân vào viện trong tình trạng: Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, da niêm hồng. Mạch 94 lần/phút; huyết áp 110/80mmHg; nhiệt độ 37 độ C. Nhịp thở 20 lần/phút. Như vậy với các tổn thương của bệnh nhân Lê Xuân H2 thuộc loại cấp cứu có trì hoãn nếu không được cấp cứu kịp thời thì ngay lập tức không gây tử vong.

Về trách nhiệm dân sự:

- Quá trình điều tra:

Các bị hại yêu cầu B bồi thường chi phí điều trị và các chi phí khác như sau: Anh Lưu Minh K yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng); anh Lê Xuân H2 yêu cầu bồi thường 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng). Hiện B chưa bồi thường cho các bị hại. Riêng bị hại Võ Văn Đ không yêu cầu bồi thường.

Ông Trần Minh T (bố bị cáo B) trong quá trình xô xát đã bị 02 vết thương trầy da ở lưng. Tuy nhiên ông T không xác định được 02 vết thương trên xảy ra thời điểm nào và do ai gây ra. Ông T không yêu cầu giám định thương tích và không có yêu cầu gì đối với thương tích này.

Tại cáo trạng số: 526/CT/VKS-HS ngày 09 tháng 09 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Trần Uyên B phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở lại cộng đồng xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2] Về nội dung vụ án, tội danh và áp dụng điều luật:

Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị cáo, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 18/05/2024, tại nhà anh Vũ Quang S thuộc tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, khi thấy anh Võ Văn Đ, Lê Xuân H2, Lưu Minh K và các bạn tổ chức ăn nhậu và hát Karaoke gây ồn ào nên ông Trần Minh T (là hàng xóm bên cạnh) đi ra lớn tiếng chửi dẫn đến giữa ông T và nhóm của anh Đ xảy ra cãi vã. Lúc này, bị cáo Trần U (con ông T) về đến nhà thấy ông T đang cãi nhau với nhóm của anh Đ nên bị cáo cho rằng nhóm của anh Đ đòi đánh ông T. Bị cáo có hành vi sử dụng 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm bằng kim loại, mũi nhọn chạy nhà của S để đánh nhau với nhóm của anh Đ. Khi bị cáo cầm dao đi vào nhà anh S, anh L cầm 01 cây lau nhà chạy đến đánh 01 cái vào tay của bị cáo B để ngăn cản. Bị cáo Bình lùi lại rồi tiếp tục cầm dao tự chế xông đến vị trí của nhóm anh Đ đang ngồi nhậu vung dao chém 01 nhát trúng vào sau lưng phía bên trái của Đ gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Bị cáo chém 01 nhát trúng vào vùng trán bên trái và 01 nhát trúng vào vùng hông bên trái của anh Lê Xuân H2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Bị cáo chém 01 nhát trúng vào lưng và 01 nhát sau gối chân phải của anh Lưu Minh K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của Bị cáo Trần Uyên B đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành nên có đủ nhận biết hành vi vi phạm pháp luật, vì không kìm chế được bản thân đã dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho các bị hại. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại Võ Văn Đ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt: Áp dụng đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Uyên B phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: bị cáo Trần Uyên B mức án 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2024.

3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Trần Uyên B phải bồi thường cho bị hại ông Lưu Minh K số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng); ông Lê Xuân H2 số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm, lưỡi bằng kim loại, cán dao bằng gỗ là hung khí bị cáo dùng để gây án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Biên Hoà).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự số tiền 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo; bị hại được kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND TP.Biên Hòa;
  • - THA Biên Hòa;
  • - Bị cáo; bị hại
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trần Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 558/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 558/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo B có hành vi gây thương tích cho các bị hại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger