|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 558/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06/9/2024
V/v Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ Bà Nguyễn Trường Giang
2/ Bà Nguyễn Thị Út
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Trung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Bảo Trân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1186/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1295/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Quế Tâm – Sinh năm: 1980
Địa chỉ: Số 205 tổ 11, Ấp 1, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Đoàn Thanh Lâm – Sinh năm: 1977
Địa chỉ: Số 205 tổ 11, Ấp 1, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quế Tâm trình bày:
Bà và ông Đoàn Thanh Lâm tự nguyện kết hôn năm 2004, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 79, quyển số 01/2004 do Ủy ban nhân dân xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/7/2004.
Theo bà Tâm, trong quá trình chung sống với nhau hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm. Đến năm 2019 bà Tâm phát hiện ông Lâm có người phụ nữ khác nhưng bà vẫn tha thứ cho ông Lâm cơ hội để hàn gắn lại với nhau tuy nhiên ông Lâm vẫn không thay đổi. Ông Lâm sống thiếu trách nhiệm với gia đình, thường xuyên bỏ đi mấy ngày mà không thông báo cho bà Tâm biết, bà nhận ra bản thân không được chồng tôn trọng. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Đoàn Thanh Lâm.
Về con chung: có 02 con chung là Đoàn Nguyễn Quế Trăm sinh ngày 16/6/1998 (đã trưởng thành) và Đoàn Nguyễn Minh Thành sinh ngày 27/10/2011. Hiện con chung đang do bà Tâm trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Thành và không yêu cầu ông Lâm cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung bà khai không có.
Tại bản biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải, bị đơn ông Đoàn Thanh Lâm trình bày:
Ông Lâm đồng ý ly hôn với bà Tâm vì trong thời gian chung sống bà Tâm nhiều lần ghen tuông dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên căng thẳng. Tuy nhiên ông Lâm trình bày ông chỉ đồng ý ly hôn với điều kiện sau khi ly hôn ông vẫn được ở lại căn nhà số 205 tổ 11, ấp 1, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè mà hiện ông và bà Tâm đang ở do ông chưa có việc làm và chỗ ở nào khác.
Về con chung: Ông Lâm không giành quyền nuôi con, trẻ Đoàn Nguyễn Minh Thành muốn sống với ai ông cũng đồng ý.
Về tài sản chung: ông Lâm không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung ông khai không có.
* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng:
Về hình thức, qua kiểm sát giải quyết vụ án thì từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng về phiên tòa sơ thẩm. Việc xét xử vắng mặt bị đơn đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy yêu cầu ly hôn của bà Tâm là hoàn toàn có căn cứ, vì cả hai đã không quan tâm đến nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình và lo cho con chung do đó mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối với con chung, do thời gian sống ly thân bà Tâm tự chăm sóc nuôi dưỡng con mà không có sự hỗ trợ từ phía ông Lâm nhưng trẻ vẫn được nuôi dưỡng tốt, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho bà Tâm nuôi là phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Nguyễn Thị Quế Tâm yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Thanh Lâm. Do ông Lâm đang cư trú tại huyện Nhà Bè nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Đoàn Thanh Lâm đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham dự phiên tòa nhưng ông Lâm vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lâm hôm nay.
[2] Về yêu cầu của các nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Căn cứ vào sự các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ cơ sở khẳng định yêu cầu được ly hôn của bà Tâm là có cơ sở, bởi lẽ bản thân ông Lâm cũng không có ý định xây dựng, hàn gắn tỉnh cảm với bà Tâm, ông đồng ý ly hôn với điều kiện được tiếp tục được ở lại căn nhà hiện cả hai đang sinh sống, đồng thời ông Lâm cũng không muốn Tòa án hòa giải. Như vậy chứng tỏ ông Lâm không thực sự muốn duy trì tình cảm vợ chồng, không thể hiện sự yêu thương, quan tâm chia sẻ với vợ. Điều đó cho thấy đời sống hôn nhân của cả hai đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của Nguyễn Thị Quế Tâm đối với ông Đoàn Thanh Lâm.
[2.2] Về vấn đề con chung, bà Tâm yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại Bản tự khai ngày 15/7/2024, trẻ Đoàn Nguyễn Minh Thành có nguyện vọng được ở với bà Tâm. Xét quá trình bà Tâm và ông Lâm vẫn sống chung nhà, con chung vẫn được bà Tâm nuôi dưỡng, chăm sóc tốt về mọi mặt. Do đó cần tiếp tục giao con cho bà Tâm nuôi dưỡng chung là phù hợp. Ghi nhận việc bà Tâm không yêu cầu ông Lâm cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Cả hai xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Cả hai xác định không có.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Tâm có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0017719 ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, bà Tâm đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và Điều 39; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1/- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ vợ chồng: bà Nguyễn Thị Quế Tâm được ly hôn với ông Đoàn Thanh Lâm.
Về con chung: Giao trẻ Đoàn Nguyễn Minh Thành, sinh ngày 27/10/2011 cho bà Nguyễn Thị Quế Tâm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc Nguyễn Thị Quế Tâm không yêu cầu ông Đoàn Thanh Lâm cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về tài sản chung: bà Nguyễn Thị Quế Tâm và ông Đoàn Thanh Lâm không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: bà Nguyễn Thị Quế Tâm và ông Đoàn Thanh Lâm xác định không có.
2/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Quế Tâm có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0017719 ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, bà Tâm đã nộp đủ án phí.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4/ Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ LÊ THU HIỀN |
Bản án số 558/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 558/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CNTT
