Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 557/2022/HS-PT

Ngày: 15/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Huấn.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Ngô Đức Thụ;
  2. Ông Nguyễn Văn Hậu

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Khánh, thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 435/2022/HS-PT ngày 21/10/2022 đối với các bị cáo Nguyễn Đình Lan K và Võ Đoàn Khánh T theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6063/2022/QĐXXPT-HS ngày 01/12/2022 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 141/2022/HS-ST ngày 09/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đình Lan K; sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú, nơi cư trú: H T; phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1 và bà Lê Lâm Hồng T2; chưa có chồng, con
  2. Tiền án, tiền sự: không;

    Bắt, tạm giữ: 10/5/2021;

    Áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú thay Tạm giữ: 17/5/2021;

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Võ Đoàn Khánh T; sinh năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: B Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 43/3 ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đức L và bà Đoàn Thị Ngọc H; chồng tên Trần Trung H1, có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2022 ;
  4. Tiền án, tiền sự: không;

    C đi khỏi nơi cư trú:

    Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Các bị cáo không có kháng cáo:

  1. Đỗ Minh T3
  2. Phạm Văm L1
  3. Nguyễn Huy H2.

Người đại diện của bị cáo K: Bà Lê Lâm Hồng T2; sinh năm 1974; nơi cư trú: H T; phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; là mẹ đẻ của bị cáo; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo K: Ông Đoàn Trọng N; luật sư Văn phòng L4, Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.

Người có liên quan đến kháng cáo:

Bị hại: Lê Thị Hồng P; sinh năm 1983; nơi cư trú: 4 T, Phường A, Quận, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/5/2021, Đỗ Minh T3 đang ở nhà cùng Nguyễn Đình Lan K tại địa chỉ Ấp A, xã X, huyện H thì Phạm Văn L2 và Võ Đoàn Khánh T đến. Sau đó, L2 rủ T3 đi ăn sáng ở khu vực Ấp D, xã X, huyện H; còn T và K thì đi chơi với nhau. Sau khi ăn sáng, L2 điện thoại cho Nguyễn Huy H2 hẹn gặp nhau tại ngã tư Đ thuộc Ấp D, xã X, huyện H. Khi gặp nhau, L2 rủ T3 và H2 đi cướp giật tài sản của người khác.

Sau khi đã thống nhất ý chí, T3 điều khiển xe máy mang biển số 51Y1-709.43 chở L2 chạy lòng vòng trên các đường giao thông để tìm cơ hội cướp giật; H2 thì điều khiển xe máy Yamaha Exciter màu trắng đỏ mang biển số 59T1-754.35 chạy phía sau để làm nhiệm vụ cản trở người truy đuổi nếu có. Khi cả ba đi trên đường Đ hướng về cầu A, ấp N, xã T, huyện H, L2 phát hiện bà Lê Thị Hồng P điều khiển xe máy Honda Vision chạy theo hướng ngược lại, bà P có đeo 01 túi xách da màu đen. L2 nói với T3 “thấy bà đi chiếc Vision không”. T3 hiểu ý nên điều khiển xe quay lại đuổi theo xe của bà P, H2 thấy vậy cũng quay xe chạy theo. Khi đến trước khu vực nhà D ấp N, xã T, huyện H, T3 điều khiển xe chạy áp sát bên trái bà P, L2 dùng tay giật chiếc túi xách của bà P. Bà P bị mất thăng bằng, để xe đâm trực diện vào đầu xe ô-tô tải biển số 50H-023.17 đang đỗ bên lề đường, bà P bị ngã xuống đường và bất tỉnh. Sau khi giật được túi xách của bà P, T3 chở L2 tẩu thoát; H2 chạy theo T3 không kịp nên điều khiển xe đi về nhà. Trên đường tẩu thoát, L2 kiểm tra túi xách lấy 01 cọc tiền và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu hồng giơ ra cho T3 thấy; còn chiếc túi xách thì Lâm vứt bỏ bên đường gần chân cột điện số 517 đường XTS3, thuộc ấp E, xã X, huyện H. Sau đó, T3 chở L2 về nhà của T3. Khi đến nơi, L2 điện thoại cho T, bảo T và K đến nhà của T3. Trong lúc chờ T và K, T3 và L2 tháo biển số xe 51Y1-709.43, cởi bỏ quần áo, mũ bảo hiểm, bỏ tất cả vào 01 bịch nylon màu đen; T3 và L2 chia nhau số tiền cướp giật, mỗi người được 2.500.000đ. Khi T và K về đến nhà của T3, L2 đưa cho T và K chiếc điện thoại di động hiệu Iphone và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh đen. T3 và L2 nói cho T và K biết đó là điện thoại vừa cướp giật được và bảo cả hai mang đi bán. T3 đưa cho K bịch nylon màu đen bên trong có chứa biển số xe, quần áo, mũ bảo hiểm (đã đề cập), bảo T và K mang đi vứt bỏ để che giấu tội phạm. Sau đó, K điều khiển xe máy hiệu Vario mang biển số 50Y1-617.65 chở T mang bịch nylon đã nêu vứt xuống kênh dọc đường XTT4, thuộc Ấp D, xã X, huyện H, rồi cả hai đi đến tiệm C1 (số A P, Ấp A, xã X, huyện H). T vào tiệm đưa 02 điện thoại cho bà Mai Thiên G xem để bán nhưng do không thỏa thuận được giá cả nên T không bán mà bảo K chở đến tiệm khác. Sau đó, K chở T đến tiệm khác để bán điện thoại nhưng không bán được nên lại quay về tiệm của bà G. Tại đây, K bán bán 02 chiếc điện thoại cho bà G với giá 5.500.000đ, trong đó chiếc điện thoại Iphone 7 Plus bán với giá 2.500.000đ, còn điện thoại X bán với giá 3.000.000đ. Sau đó, cả hai mang tiền về giao lại cho L2 và T3. L2 và T3 chia nhau số tiền này, mỗi người được 2.750.000đ. L2 cho T và K 500.000đ, còn T3 cho K 1.000.000đ. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T3 mang dàn áo nhựa của xe máy Honda Sonic đến tiệm S, số A Ấp C, xã X, huyện H, thuê sơn lại màu khác để tránh bị phát hiện. Riêng L2 thì cho H2 500.000đ, nói là tiền bán điện thoại cướp giật được. Ngày 10/5/2021, T3 và K bị cơ quan công an mời làm việc, cả hai thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu.

Qua truy xét, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với L2 và H2, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.

Ngày 05/7/2021, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú. Theo bản kết luận định giá tài sản 120/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản Trong tố tụng hình sự huyện H, xác định được như sau: 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng, dung lượng 128GB có trị giá 5.000.000đ; 01 túi xách nữ bằng da hiệu Calvin Klein màu đen kích thước 20cm x 25cm có giá 800.000đ (bl.252-255).

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 713/TgT.21 ngày 21/10/2021 của Trung tâm P1 – Sở Y tế Thành phố H và văn bản số 713-GT/TgT.21 ngày 09/11/2021 của Trung tâm P1 - Sở Y tế Thành phố H xác định được thương tích của bà Lê Thị Hồng P như sau:

  • Đa chấn thương phần mềm ở vùng đầu, mũi, má, môi, cằm, gối đã được điều trị, hiện còn để lại sẹo;
  • Các chấn thương trên nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra hoặc phần cơ thể tác động vào vật tày gây ra.
  • Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 11%;
  • Tất cả các chấn thương trên đều không nguy hiểm đến tính mạng.

Cơ quan điều tra có thu giữ được một số vật chứng như sau:

  • 01 xe gắn máy Honda Sonic màu vàng, biển số 50Y1-709.43 thu giữ của bà Dương Thị Vân T4 (mẹ của T3);
  • 01 xe máy Yamaha Exciter màu trắng đỏ, biển số 59T1-754.35 (thu giữ của bà Nguyễn Thị U (mẹ của H2).
  • 01 áo khoác dài tay màu đen có chữ Adidas màu trắng phía trước ngực và đằng sau cổ áo; 01 (một) quần jean dài màu xanh; 01 (một) đôi dép nhựa tổ ong màu trắng hiệu Tín Thành (trang phục mà bị cáo T3 sử dụng khi gây án);
  • 01 áo khoác dài tay màu xám trắng có chữ Adidas màu đen phía trước ngực; 01 (một) mũ bảo hiểm màu hồng có chữ XITRUM màu đen phía trước (trang phục mà bị cáo K sử dụng khi gây án);
  • 01 USB hiệu Kington do bà G giao nộp, có dữ liệu do camera tại tiệm C1 ghi lại hình ảnh T4 và K bán điện thoại cho bà G.

Trong quá trình điều tra, bà G đã tự nguyện giao nộp lại 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng, Cơ quan điều tra đã thu giữ và giao trả lại cho bà P.

Về phần dân sự: Cơ quan điều tra đã thu giữ và giao trả lại cho bà P chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-HS ngày 23/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố Đỗ Minh T3, Phạm Văn L2 và Nguyễn Huy H2 về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự); truy tố Nguyễn Đình Lan K và Võ Đoàn Khánh T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 141/2022/HS-ST ngày 09/8/2022 và Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 47/2022/TB-TA ngày 22/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 323, Điều 38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L3 Khuê 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

Căn cứ khoản 1 Điều 323, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Đoàn Khánh T 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

Ngoài ra, còn tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Huy H2, Nguyễn Minh T5, Phạm Văn L2 với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; áp dụng các biện pháp tư pháp; tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo và các đương sự.

Ngày 10/9/2022, bị cáo T có đơn kháng cáo với nội dung: Cha mẹ đẻ của bị cáo ly hôn từ lúc bị cáo 02 tuổi, trình độ văn hóa thấp, bị cáo thiếu hiểu biết về luật pháp; bản thân bị cáo phải chăm sóc con nhỏ và cha chồng là ông Trần Đức K1, thương binh, nạn nhân chất độc màu da cam, được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự giác ra đầu thú. Do vậy, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 10/8/2022, bị cáo K có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo phạm tội lần đầu; phạm tội ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải có trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết về luật pháp; bị cáo bị hạn chế về khả năng nghe. Do vậy, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết kháng cáo như sau:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được, có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, nhận thấy các bị cáo đều mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo K là người bị hạn chế về thể chất, bị khiếm thính; bị cáo T có 02 con nhỏ, trong quá trình xét xử phúc thẩm có cung cấp thêm tài liệu chứng cứ minh cha chồng bị cáo là thương binh, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhất; các bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; có đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho hưởng án treo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo K như sau: Luật sư đồng với ý kiến của đại diện viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tự cải tạo.

Bị cáo T không có ý kiến bào chữa, chỉ xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo có thể chăm sóc 02 con nhỏ và cha chồng của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Căn cứ lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ thu thập được, có căn cứ để xác định rằng:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 06/5/2021, ở trước khu vực nhà D ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Đỗ Minh T3, Phạm Văn L2, Nguyễn Huy H2 đã có hành vi sử dụng xe máy làm phương tiện cướp giật chiếc túi xách của bà Lê Thị Hồng P trong khi bà P đang điều khiển xe máy đi trên đường. Tài sản của bà P bị chiếm đoạt có tổng trị giá là 10.800.000đ, bao gồm chiếc túi xách có giá 800.000đ, 5.000.000đ tiền mặt và chiếc điện thoại Iphone 7 Plus có giá 5.000.000đ để trong túi xách. Hành vi của các bị cáo còn dẫn đến việc bà P bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 11% do bị ngã xuống đường.

Sau khi chiếm đoạt được tài sản của bà P, T3 và L2 đã đưa cho T và Khuê chiếc điện thoại Iphone 7 Plus của bà P và 01 chiếc điện thoại Xiaomi để mang đi bán. T3 và L2 nói cho T và K biết các tài sản vừa nêu là tài sản do phạm tội mà có. T và K mang 02 chiếc điện thoại bán cho bà Mai Thiên G được 5.500.000đ và mang tiền về giao lại cho T3 và L2. L2 và T3 chia nhau số tiền vừa nêu, mỗi người được 2.750.000đ. L2 cho T và K 500.000đ, còn T3 cho K 1.000.000đ.

T3, L2 khai chiếc điện thoại X là tài sản các bị cáo chiếm đoạt được trong 01 vụ cướp giật khác. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được bị hại.

[2].Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng. Các bị cáo là những người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, bị luật pháp nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi nên vẫn cố ý vi phạm.

[3].Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo theo tội danh, điều luật như đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4].Về kháng cáo của các bị cáo:

Các bị cáo phạm tội lần đầu, phạm tội ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo K là người khiếm thính (bl.472); bị cáo T có 02 con nhỏ; bị cáo T có cung cấp tài liệu chứng minh cha chồng là người có công với cách mạng, là thương binh, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhất. Do vậy, cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó bị cáo T có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là tương xứng với tính chất mức độ vi phạm và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng. Do vậy, cần giữ nguyên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, có đủ điều kiện cho hưởng treo. Do vậy, cần cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng mà cho hưởng án treo.

Căn cứ vào các nhận định đã nêu, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của các bị cáo; sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[5].Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

1.Sửa bản án sơ thẩm số 141/2022 /HS-ST ngày 09/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L3 Khuê 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xử phạt bị cáo Võ Đoàn Khánh T 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo K cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2.Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - VKSND H. Hóc Môn; (1)
  • - PC53 - CATP; (1)
  • - Bị cáo; (2)
  • - Đương sự: (4)
  • - Chi Cục THA H. Hóc Môn; (1)
  • - TAND H. Hóc Môn; (2)
  • - Công an H. Hóc Môn; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: THS, hồ sơ, VT (24). (4)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Công Huấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 557/2022/HS-PT ngày 15/12/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 557/2022/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Lan Khuê và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger