Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 557/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06- 9 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Dương Văn Luỹ
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 407/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 421/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 253/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Tuyết N, sinh năm 1990, nơi cư trú: số E, tổ A, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang (yêu cầu vắng mặt).

- Bị đơn: anh Phạm Văn S, sinh năm 1985, nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Vào năm 2016 chị và anh S có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P (Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 21/02/2017). Nguyên nhân mâu thuẫn: khoảng tháng 09/2017 khi về gia đình chồng ở để nuôi con nhỏ thì xảy ra nhiều mâu thuẫn với gia đình chồng, đến tháng 03/2018 vợ chồng trở lại Bình Dương để làm thuê thì thường xuyên cãi nhau về chuyện tiền bạc, anh S không lo được kinh tế nhưng bắt buộc chị phải ở nhà giữ con không đồng ý cho chị đi làm, tháng 12/2018 chính thức ly thân đến nay. Do tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn. Về con chung có 01 đứa tên Phạm Thành P, sinh ngày 16/02/2017, yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có.

Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.

Tòa án tiến hành xác minh được bà Trần Thị H (chị dâu của N) cho biết: Vợ chồng N - S không còn chung sống khoảng 06 năm nay gia đình đã hàn gắn nhưng không được. Con chung tên Phạm Thành P do N đang nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Ông Phạm Văn H1 (cha ruột anh S) cho biết vợ chồng S đã ly thân từ tháng 3/2018 đến nay, vợ chồng S cãi nhau về chuyện tiền bạc và N có mâu thuẫn với gia đình chồng.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, đị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh S. Về con chung: cần giao con chung tên Phạm Thành P, sinh ngày 16/02/2017 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Chia tài sản và nợ chung không có nên không xem xét; về án phí, chị N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện P nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố Tụng Dân sự.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Chị N anh S có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc thường xảy ra cự cãi về chuyện tiền bạc, chị N có mâu thuẫn với gia đình anh S và vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/2018 đến nay. Tòa án đã triệu tập anh S để tham gia hòa giải, xét xử nhưng anh đều không đến, chị N cương quyết ly hôn nên chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh S là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Thành P, sinh ngày 16/02/2017 do chị N nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, tiếp tục giao con chung cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Chị N xác định không có nên không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Ghi nhận chị N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Anh S không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về hôn nhân: chị Phạm Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phạm Văn S.
  2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Thành P, sinh ngày 16/02/2017, hiện đang sống với chị N. Giao chị N trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Thành P đến khi thành niên và tự lập được. Anh S không cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh S.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Không có.
  2. Về nợ chung: Ghi nhận chị N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
  3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Phạm Thị Tuyết N phải chịu án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0007052 ngày 19/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Phạm Văn S không phải chịu án phí.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 557/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 557/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Tuyết Nh được ly hôn với Phạm Văn S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger