|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 557/2025/HS-PT Ngày: 19/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Nhã
Các Thẩm phán:Ông Trần Đức Hiếu
Ông Trương Thành Trung
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy Bình - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 195/2025/TLPT-HS ngày 25/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Phước T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 328/2024/HSST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Phước T, sinh năm 1988; giới tính: nữ; ĐKHKTT: khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước M và bà Nguyễn Thị L; đã ly hôn và có 01 con; tiền sự: không; tiền án: Bản án số 150/2022/HSST ngày 27/9/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; bị cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2019, qua mối quan hệ xã hội Nguyễn Thị Phước T quen biết với chị Nguyễn Thị N và anh trai chị N là Nguyễn Văn T1. Tháng 01/2021, Nguyễn Văn T1 bị Công an huyện Y, Nghệ An bắt về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 20/9/2022, Nguyễn Văn T1 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm tuyên phạt án tù chung thân. Ngay sau phiên tòa, Nguyễn Thị Phước T tình cờ gặp chị N tại khu vực sân Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, T hỏi về tình hình của T1 và được biết T1 bị tuyên án phạt tù chung thân, T nói với chị N mình có quan hệ quen biết thân thiết với thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, có khả năng lo xin giảm án cho T1 từ mức án chung thân xuống mức án 20 năm tù với tổng chi phí là 300 triệu đồng, nếu chị N đồng ý nhờ T lo xin giảm án cho T1 thì phải chuyển trước cho T 200 triệu đồng, khi nào T1 được giảm án thì chuyển nốt số tiền còn lại. Tin tưởng T, chị N đã thỏa thuận nhờ T lo xin giảm án cho T1 từ mức án chung thân xuống mức án 20 năm tù khi Tòa án cấp cao xét xử phúc thẩm đối với T1. T có nhắc N nói T1 viết đơn kháng cáo và N đã nói chuyện với T1 để T1 viết đơn kháng cáo.
Đến ngày 26/10/2022, T ra Hà Nội, hẹn chị N đến quán cà phê tại địa chỉ số A ngõ B M, phường H, H, Hà Nội để đưa tiền cho T theo thỏa thuận trên. Chị N đi cùng chồng là anh Phạm Văn H đến gặp T. Tại quán cà phê số A ngõ B M, chị N đã thực hiện giao dịch chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của chị N, số TK: 102313333333 tại Ngân hàng P đến tài khoản của Nguyễn Thị Phước T, số tài khoản: 0101001214704 tại Ngân hàng TMCP N1 theo đúng thỏa thuận với T xin giảm án cho anh T1.
Sau khi chuyển tiền cho T, chị N nhiều lần hỏi về việc xin giảm án cho T1, tuy thực tế T không biết thông tin về lịch xét xử phúc thẩm đối với T1 nhưng T vẫn nói với N về việc đang lo rồi để chị N cứ yên tâm chờ. Đến ngày 14/3/2023, Tòa án cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với Nguyễn Văn T1, tại phiên tòa, Nguyễn Văn T1 xin rút toàn bộ kháng cáo. Tòa án nhân nhân cấp cao tại Hà Nội đã ra Quyết định số 66/2023/HSPT-QĐ ngày 14/3/2023 đình chỉ việc xét xử phúc thẩm. Sau khi Nguyễn Văn T1 đi chấp hành án phạt tù chung thân tại Trại giam S - Bộ C, chị N yêu cầu T trả lại số tiền 200.000.000 đồng nêu trên. Ngày 17/5/2023, T chuyển khoản trả lại chị N số tiền là 45.000.000 đồng. Sau đó chị N đòi lại tiền rất nhiều lần nhưng T không trả. Sau khi chị N gửi đơn tố giác đến Cơ quan Công an, ngày 06/3/2024, T chuyển khoản trả chị N số tiền là 25.000.000 đồng. Ngày 27/6/2024, T đã tự nguyện giao nộp số tiền 50.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả cho chị N.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Phước T khai nhận bản thân không làm việc trong các cơ quan có chức năng xét xử án, không có khả năng xin giảm án cho người khác. Tuy nhiên T có nhiều mối quan hệ bạn bè quen biết nên nghĩ là họ có khả năng xin giảm án được cho T1 nên đã thoả thuận với chị N và nhận tiền để lo chạy án cho T1. Sau khi nhận tiền, T có liên hệ với một số bạn bè quen biết ngoài xã hội để nhờ lo xin giảm án cho T1 nhưng không nhờ được ai. T cũng không quen biết cũng như không có mối liên hệ gì với Chánh án hay Thẩm phán nào của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An hay Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, T nói với N có mối quan hệ quen biết với Chánh án và Thẩm phán để N tin tưởng nhờ T xin giảm án cho anh trai N. Số tiền 200.000.000 đồng T nhận của chị N, T không chuyển cho ai để nhờ xin giảm án cho T1 mà sử dụng 50.000.000 đồng vào tiền chi phí đi lại, ăn uống trong quá trình liên hệ tìm bạn bè nhờ lo cho T1 và số tiền 150.000.000 đồng còn lại T đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.
Đến nay, Nguyễn Thị Phước T đã khắc phục toàn bộ số tiền 200.000.000 đồng cho chị N, chị N đã nhận tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can Nguyễn Thị Phước T.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 328/2024/HSST ngày 27/12/2024, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị Phước T 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 150/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 07 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/12/2024, bị cáo Nguyễn Thị Phước T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.
Đủ căn cứ quy kết Nguyễn Thị Phước T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo. Đ điện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo kháng cáo của bị cáo, xử phạt Nguyễn Thị Phước T từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 150/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng.
1.1. Tại cấp sơ thẩm:
Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 19/12/2024, bị cáo vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, do phiên tòa mở lần đầu nên cấp sơ thẩm quyết định hoãn phiên tòa.
Ngày 27/12/2024, cấp sơ thẩm mở phiên tòa xét xử đối với bị cáo, cùng ngày bị cáo có đơn kháng cáo. Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
1.2. Tại cấp phúc thẩm:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với người tham gia tố tụng.
Ngày 17/4/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội mở phiên tòa. Bị cáo vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do sức khỏe nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh. Do phiên tòa mở lần đầu, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Phiên tòa được mở lại vào ngày 15/5/2025 (sau gần 1 tháng), bị cáo tiếp tục vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do sức khỏe, kèm theo đơn chỉ có bản phô tô kết quả chụp MRI, không có xác nhận của bệnh viện. Tuy nhiên, để đảm bảo tối đa quyền lợi của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Phiên tòa lần 3 được mở vào ngày 19/6/2025, bị cáo tiếp tục vắng mặt. Trong bưu phẩm Tòa án nhận được ngày 18/6/2025 có 01 đơn xin hoãn phiên tòa đứng tên Nguyễn Thị Phước T nhưng không có người ký; 01 đơn xin xác nhận điều trị tại Bệnh viện C1 ngày 17/6/2025, trong đó có nội dung xác định bệnh nhân Nguyễn Thị Phước T hạn chế vận động khớp gối trái sau trấn thương cách 01 tháng.
Xét thấy, Tòa án đã nhiều lần hoãn phiên tòa nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, không có căn cứ cho rằng sự vắng mặt của bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách; sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử.
Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.
[2] Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/10/2022 tại số A ngõ B M, phường H, H, Hà Nội, Nguyễn Thị Phước T đã có hành vi chiếm đoạt 200.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị N thông qua hình thức đưa ra thông tin gian dối, hứa hẹn xin giảm án cho anh Nguyễn Văn T1 (là anh của chị N) nhưng không thực hiện.
Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai quy kết Nguyễn Thị Phước T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo; đã bồi thường và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ và có căn cứ.
Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Ngày 27/9/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Tuy nhiên, chỉ sau khoảng 1 tháng (ngày 26/10/2022) bị cáo tiếp tục phạm tội. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[3] Bị cáo không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Thị Phước T 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù tại Bản án hình sự số Bản án hình sự số 150/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 07 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Căn cứ Điều 136, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
Bản án số 557/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 557/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Phước T - Lừa đải chiếm đoạt tài sản
