TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 557/2024/HC-PT Ngày: 23 - 7 - 2024 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Cầu
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 344/2024/TLPT-HC ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số: 2012/2023/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1850/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Phạm Thị Kim M (có mặt)
Địa chỉ: A13/1 M, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Bùi Trường C – Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người bị kiện:
- Uỷ ban nhân dân huyện B
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T – Phó chủ tịch (xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:
- Ông Trần Ngọc V – Phó trưởng Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện B (văng mặt);
- Ông Đoàn T – Phó trưởng phòng, trực thuộc Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện B (có mặt);
- Bà Dương Thị Kim H – Phó trưởng phòng Phòng Tài nguyên và môi trường huyện B (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đơn khởi kiện, biên bản đối thoại và tại phiên tòa sơ thẩm, người khởi kiện bà Phạm Thị Kim M trình bày:
Phần đất của bà Phạm Thị Kim M có diện tích 5.010,9m², theo tài liệu 299/TTg là một phần thửa 244, tờ bản đồ số 6, thuộc Bộ địa chính xã L; Theo tài liệu bản đồ địa chính 2005 thì do bà kê khai sử dụng, mục đích đất thổ. Nguồn gốc đất do bà sang nhượng hoa màu trên đất bờ Xáng của ông Lê Văn M1 vào năm 1991, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L năm 1992. Bà xây dựng nhà ở trên đất từ năm 1991, có xin phép xây dựng nhà xưởng năm 1993 và sử dụng đất ổn định từ 1991 đến nay. Hiện trên đất có nhà ở, nhà xưởng và cây trồng.
Năm 2018, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 8134/QĐ-UBND ngày 06/9/2018 về bồi thường, hỗ trợ cho bà Võ Thị Kim M2 bị ảnh hưởng trong Dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị S tại xã L, huyện B. Trong quyết định này, Ủy ban huyện B cho rằng bà sử dụng đất lấn chiếm của tổ chức, hiện trạng nhà xưởng sản xuất và bãi chứa vật liệu xây dựng nên không bồi thường đất và vật kiến trúc trên đất, mà chỉ bồi thường cây trồng trên đất. Ủy ban nhân dân huyện B đã bồi thường cây trồng có trên đất là 15.654.000 đồng.
Không đồng ý với quyết định bồi thường, bà có khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 5006/QĐ-UBND ngày 28/6/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đã bác khiếu nại của bà.
Bà khởi kiện yêu cầu hủy quyết định bồi thường số 8134/QĐ-UBND ngày 06/9/2018 và quyết định giải quyết khiếu nại số 5006/QĐ-UBND ngày 28/6/2021. Lý do bà sử dụng đất hợp pháp, bà sử dụng đất để ở từ năm 1992. Năm 1993 bà có xin phép khi xây dựng nhà xưởng và được Ủy ban nhân dân xã L chấp thuận. Bà có đăng ký kinh doanh theo quy định. Ủy ban nhân dân huyện B cho rằng bà lấn chiếm đất để không bồi thường là không đúng pháp luật. Ngay cả đồng hồ điện và giếng khoan là tài sản bị thiệt hại do thu hồi đất cũng không được bồi thường. Ngoài ra, đơn giá bồi thường, hỗ trợ không hợp lý. Bà yêu cầu đơn giá 10.000.000 đồng/m².
Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện B, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B có ý kiến trình bày tại văn bản số 1260/UBND ngày 26/4/2022, 1256/UBND ngày 26/4/2022:
Theo Bản đồ hiện trạng vị trí để lập sơ đền bù do Công ty cổ phần V1 lập ngày 31/10/2012, được Ủy ban nhân dân xã L và bà M2 ký xác nhận, thể hiện phần đất bà Võ Thị Kim M2 sử dụng bị ảnh hưởng trong Dự án có tổng diện tích 5.010,9m², là một phần thửa 244, tờ bản đồ số 6, thuộc Bộ địa chính xã L, do Nông trường Lê Minh X đăng ký sử dụng theo tài liệu 299/TTg, đất ĐS (đường sá). Bà M2 đăng ký sử dụng theo tài liệu địa chính 2005, đất thổ.
Căn cứ Quyết định 6982/QĐ-UB-QLĐT ngày 30/9/1995 và Quyết định số 150/2004/UBND ngày 09/4/2004 của Ủy ban nhân dân Thành phố thì phần đất này nằm trong hành lang bảo vệ kinh Xáng Đứng và lộ giới đường M.
Đất của bà M2 có nguồn gốc là của Nông trường Quốc doanh Lê Minh X. Năm 1977 Nông trường Quốc doanh Lê Minh X được thành lập, vị trí khu đất này được giao khoán cho các hộ dân sử dụng được xây dựng các lò ép mía đường nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp cho Nông trường. Đến khoảng năm 1991 Nông trường trả lại đất cho Nhà nước quản lý, các hộ dân được nhận giao khoán tiếp tục sử dụng. Trong quá trình sản xuất ép mía đường các hộ dân tự ý chuyển sang cất nhà để ở, làm bãi tập kết vật liệu xây dựng, tự ý lấn chiếm mua bán nhà đất bằng giấy tay trái quy định pháp luật. Bà M2 sử dụng sử dụng đất từ năm 1991, không có tranh chấp. Bà M2 xây dựng nhà xưởng từ năm 1991, không có tranh chấp.
Phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư số 373/PA-HĐBT ngày 31/12/2008 của Hội đồng bồi thường GPMB của dự án đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P tại Quyết định số 09/QĐ- UBND ngày 02/01/2009. Căn cứ Điểm c Khoản 7 Phần II Chương II của Phương án số 373/PA-HĐBT, Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định số 8134/QĐ-UBND ngày 06/9/2018 về bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị Kim M bị ảnh hưởng trong Dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị S tại xã L, huyện B (đính kèm Phiếu chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ số 4138/CT-BBT ngày 30/8/2018 của Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng huyện). Cụ thể, như sau:
Căn cứ điểm c khoản 7 Phần II Chương II Phương án hỗ trợ, bồi thưởng số 373/PA-HĐBT ngày 31/12/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt tại Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 02/01/2009, Ủy ban nhân dân huyện đã xác định số tiền bồi thường theo Phiếu chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ số 4138/PCT-BBT ngày 30/8/2018 của Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng huyện, như sau:
- Đất sử dụng làm nhà xưởng 5.010,9m²: Không bồi thường,hỗ trợ.
- Công trình xây dựng trên đất là nhà xưởng trên đất: Không bồi thường, hỗ trợ.
- Bồi thường, hỗ trợ cây trồng, hoa màu: 15.654.000 đồng
Từ những cơ sở trên, việc Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định bồi thường hỗ trợ thiệt hại số 8134/QĐ-UBND ngày 06/9/2018 là dúng quy định. Đề nghị bác yêu cầu của người khởi kiện.
Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B trình bày:
Phần đất bà Phạm Thị Kim M sử dụng bị ảnh hưởng Dự án có diện tích 5.010,9m² thuộc một phần thửa 244, tờ bản đồ số 6, theo tài liệu 299/TTg (tương ứng với trọn thừa 01, tờ bản đồ số 39, theo tài liệu đo mới năm 2003) thuộc Bộ địa chính xã L, huyện B, đất có nguồn gốc do Nông trường Lê Minh X quản lý (theo Tài liệu 299/TTg về phần đất này nằm dọc tuyến đường M và kênh Xáng Đứng do nông trường Lê Minh X đăng ký sử dụng), ông Lê Văn M1 lấn chiếm sử dụng, chuyển nhượng bằng giấy tay cho bà Phạm Thị Kim M. Bà Phạm Thị Kim M xây dựng nhà xưởng năm 1991 không phép, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào hồ sơ đăng ký kinh doanh thì bà M sử dụng đất làm bãi chứa vật liệu xây dựng và kinh doanh lò đường. Từ cơ sở xác minh và pháp lý nêu trên, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng Huyện tham mưu Ủy ban nhân dân Huyện không hỗ trợ về đất và tài sản trên đất, chỉ bồi thường cây trồng trên đất là 15.654.000 đồng.
Từ những cơ sở trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 5006/QĐ-UBND ngày 28/06/2021 là đúng quy định pháp luật; đề nghị bác yêu cầu của người khởi kiện.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 2012/2023/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện bà Phạm Thị Kim M
1/Hủy phần nội dung không tổ chức bồi thường tổ chức hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện tại Phiếu chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ số 4138/PCT-BBT ngày 30/8/2018 của Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng huyện B được Ủy ban nhân dân huyện B phê duyệt tại Quyết định số 8134/QĐ-UBND ngày 06/9/2018.
Ủy ban nhân dân huyện B phải thực hiện hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
2/Hủy phần nội dung không hỗ trợ đối với đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện tại quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 5006/QĐ-UBND ngày 12/5/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/11/2023 người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện bà Phạm Thị Kim M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người bị kiện xin xét xử vắng mặt.
Trong phần tranh luận:
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện giữ nguyên nội dung đã nêu trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của bà M.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện đúng thủ tục theo quy định của Tố tụng hành chính
- Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ toàn diện vụ án. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đã không thực hiện đúng chính sách bồi thường khi thu hồi đất của bà M, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ. Người bị kiện có kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới để chứng minh, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B làm trong thời hạn quy định pháp luật nên hợp lệ.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
[3] Ngày 06/9/2018 Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 8134/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị Kim M khi thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu đô thị S, với nội dung như sau:
- Đất sử dụng làm nhà xưởng 5.010,9m²: Không bồi thường,hỗ trợ.
- Công trình xây dựng trên đất là nhà xưởng trên đất: không bồi thường, hỗ trợ.
- Bồi thường, hỗ trợ cây trồng, hoa màu: 15.654.000 đồng
Bà M có khiếu nại. Ngày 28/6/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 5006/QĐ-UBND bác khiếu nại của bà M. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết định liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, và buộc Ủy ban nhân dân huyện B thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho bà theo quy định pháp luật.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của người bị kiện:
[4.1] Về nguồn gốc đất:
Theo Quyết định số 113/QĐ-UB ngày 01/2/1977 của Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành về việc xây dựng các khu kinh tế mới thì một phần thửa 244 thuộc đất của Nông trường quốc doanh Lê Minh X. Lô đất thuộc một phần thửa 244 nằm giữa tuyến đường Mai Bá H1 và kênh Xáng Đứng; Theo tài liệu 299/TTg là một phần thửa 244, tờ bản đồ số 6, thuộc Bộ địa chính xã L, do Nông trường quốc doanh Lê Minh X đăng ký sử dụng theo tài liệu 299/TTg, đất ĐS (đường sá), không có tài liệu thể hiện giải thể Nông trường quốc doanh Lê Minh X.
Ngày 04/11/1992 Ủy ban nhân dân Thành phố H có Quyết định 121/QĐ-UB thành lập Nông trường Lê Minh X. Ngày 05/7/2004 Ủy ban nhân dân Thành phố H có Quyết định 3338/QĐ-UB sáp nhập Nông trường Lê Minh X vào Nông trường Phạm Văn H2 và đổi tên T2. Ngày 09/9/2022 Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cây trồng Thành phố H có văn bản số 171/CV-CT với nội dung: Theo Quyết định giao đất số 887/QĐ-UB ngày 30/11/1991 của Ủy ban nhân dân Thành phố H cho Nông trường Lê Minh X, thì phần đất của người khởi kiện không thuộc đất được giao cho Nông T1 Lê Minh X.
Ủy ban nhân dân huyện B cho rằng: Ngày 10/9/1986 Ủy ban nhân dân Thành phố H có Quyết định số 120/QĐ-UB thành lập Nông trường Quốc doanh Láng Le, thì một phần thửa 244 thuộc Nông trường Quốc doanh Láng Le, nhưng do người dân tự chiếm sử dụng từ những năm 1991 nên Nông trường Quốc doanh Láng Le không trực tiếp sử dụng, cũng không quản lý phần đất này. Xét, nội dung Quyết định số 120/QĐ-UB ngày 10/9/1986 về việc thành lập Nông trường Quốc Doanh Láng Le không thể hiện rõ ràng một phần thửa 244 có bị tách ra khỏi Nông trường quốc doanh Lê Minh X để thành lập Nông trường quốc doanh Láng Le hay không, và không có tài liệu thể hiện giải thể Nông trường quốc doanh Láng Le, còn Nông trường L thành lập năm 1997 thì không quản lý đất này. Do đó, nội dung trình bày này của Ủy ban nhân dân huyện B không có căn cứ để chấp nhận.
Từ các tài liệu, chứng cứ trên có cơ sở xác định phần đất có nguồn gốc của Nông trường quốc doanh Lê Minh X, Nông trường quốc doanh Lê Minh X đăng ký theo Chỉ thị 299/Ttg. Bà M không có tài liệu thể hiện Nông trường giao cho hộ dân sử dụng, nên người bị kiện xác định phần đất bị thu hồi của bà M có nguồn gốc của tổ chức bị người dân lấn chiếm là có cơ sở.
[4.2] Về xác định mục đích sử dụng đất:
[4.2.1] Các tài liệu do bà M cung cấp gồm: Đơn xin phép xây dựng lò đường và đăng ký kinh doanh của bà M ngày 01/3/1992 có Ủy ban nhân dân xã L xác nhận “chấp thuận mở cơ sở”; Đơn xin cấp mặt bằng sản xuất có Ủy ban nhân dân xã L xác nhận ngày 03/3/1992; Đơn xin cất nhà ở vì không có nhà có Ủy ban nhân dân xã L xác nhận ngày 20/7/1993; Công an xã L có xác nhận đơn xin xác nhận tạm trú cho bà M ngày 29/5/1995; Ủy ban nhân dân xã tặng giấy khen học sinh giỏi cho con bà M năm 2008, bà M có danh sách cử tri tại xã L.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/7/2022 của Tòa án cấp sơ thẩm, ghi nhận trên đất có công trình xây dựng như là nhà ở; Tại phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án ngày 25/8/2020 có Công an xã L xác nhận bà M thực tế cư ngụ trên đất từ năm 1992.
Xét, các chứng cứ nêu trên đã thể hiện bà Phạm Thị Kim M sử dụng đất để ở từ năm 1992. Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/7/2022 của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện công trình xây dựng như là nhà ở của bà M có diện tích 126m², phù hợp với bản vẽ hiện trạng nhà do Công ty cổ phần V1 lập ngày 14/3/2013.
Theo điểm a, điểm c khoản 7 Phần II Chương II Phương án số 373/PA-HĐBT ngày 31/12/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt tại Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 02/01/2009, thì nguồn gốc đất do chiếm của tổ chức và sử dụng trước năm 1993, nếu sử dụng mục đích phi nông nghiệp (không phải đất ở) sẽ không bồi thường, hỗ trợ; nếu sử dụng là đất ở sẽ hỗ trợ 30% đơn giá đất ở. Đối chiếu với Phương án bồi thường thì bà M đủ điều kiện được hỗ trợ đất ở.
[4.2.2] Ngoài ra, theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể số 1273/KHD.CN và số 1245/HKD.TM, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 0303738861, thì bà M sử dụng đất vào mục đích sửa chữa ô tô, mua bán vật liệu xây dựng, ép mía gia công. Do đó, phần đất còn lại, Ủy ban nhân dân huyện B xác định bà M sử dụng đất mục đích phi nông nghiệp không phải đất ở là có căn cứ.
Theo điểm c khoản 7 Phần II Chương II Phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư số 373/PA-HĐBT ngày 31/12/2008 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt tại Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 02/01/2009, thì phần đất này sẽ không được bồi thường, hỗ trợ. Do đó, bà M yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện B bồi thường, hỗ trợ phần đất còn lại không phải là đất ở là không được chấp nhận.
[4.3] Về công trình xây dựng, tài sản trên đất.
- Công trình xây dựng là nhà ở:
Theo nhận định trên thì căn cứ điểm c khoản 2 Phần III Chương III Phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư số 373/PA-HĐBT, Ủy ban nhân dân huyện B hỗ trợ công trình xây dựng là nhà ở cho bà M.
- Công trình xây dựng là nhà xưởng: Theo tài liệu thể hiện bà M sử dụng đất năm 1992, bà có đăng ký kinh doanh lò đường. Năm 1992 khu vực này quy hoạch đất tiểu thủ công nghiệp nên bà kinh doanh lò đường là phù hợp mục đích sử dụng đất. Ủy ban nhân dân xã cho phép bà xây dựng nhà ở và xưởng để mở lò đường vào năm 1992, thời điểm này chưa có quy hoạch về bảo vệ hàng lang kênh rạch, cũng chưa có quy định về quản lý xây dựng. Như vậy, các công trình xây dựng trên đất là nhà xưởng của bà M không vi phạm tại thời điểm xây dựng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện xác định trong Phương án 373/PA-HĐBT không có quy định để về phần nhà xưởng, nên không có cơ sở hỗ trợ, bồi thường. Do Phương án 373/PA-HĐBT không có quy định và có hiệu lực thi hành, nên việc Ủy ban nhân dân huyện B không bồi thường hỗ trợ đối với phần nhà xưởng trên đất là có căn cứ.
- Tài sản khác là giếng khoan, đồng hồ điện:
Tại Biên bản kiểm kê hiện trạng sử dụng và tài sản bị ảnh hưởng dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị S ngày 23/7/2012 đối với bà M thể hiện tài sản trên đất của bà M có 01 giếng khoan và điện kế 3 pha. Đây là tài sản hợp pháp của bà M. Căn cứ Khoản 1 Điều VIII Chương III Phương án 373/PA-HĐBT thì Ủy ban nhân dân huyện B phải bồi thường tài sản này.
[4.4] Về đơn giá bồi thường:
Phần đất này bị thu hồi theo Quyết định số 4308/QĐ-UBND ngày 25/9/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Do vậy, giá đất tính bồi thường, hỗ trợ quy định tại Phương án số 373/PA-HĐBT của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng dự án đầu tư xây dựng dự án đã được Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt tại Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 02/01/2009 là cơ sở tính bồi thường, hỗ trợ đối với công tác thu hồi thuộc dự án này. Bà M yêu cầu hỗ trợ theo đơn giá 10.000.000 đồng/m² mà không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để chấp nhận.
[4.5] Ngoài sai sót về nội dung không tổ chức hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện, thì các nội dung khác của Phiếu chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ số 4138/PCT-BBT ngày 30/8/2018 của Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng huyện là đúng quy định pháp luật. Việc bồi thường bổ sung không làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của người khởi kiện khi thi hành Quyết định về bồi thường số 8134/QĐ-UBND ngày 06/9/2018 của Ủy ban nhân dân huyện B đối với bà Phạm Thị Kim M trong Dự án Đầu tư Khu đô thị S, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không hủy toàn bộ Quyết định số 8134/QĐ-UBND, mà chỉ hủy phần nội dung không tổ chức hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện tại Phiếu chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ số 4138/PCT-BBT, buộc Ủy ban nhân dân huyện B phải thực hiện hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường sản là giếng khoan và đồng hồ điện cho bà Phạm Thị Kim M theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
[4.6] Khi xem xét giải quyết khiếu nại Quyết định số 8134/QĐ-UBND ngày 06/9/2018 của Ủy ban nhân dân huyện B về duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư, thì Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 5006/QĐ-UBND ngày 28/6/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, ngoài nội dung không hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện, các nội dung còn lại của Quyết định số 5006/QĐ-UBND là đúng quy định pháp luật. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ hủy phần giải quyết khiếu nại đối với nội dung không tổ chức hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường sản là giếng khoan và đồng hồ điện tại Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 5006/QĐ-UBND ngày 28/6/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B là có căn cứ.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Người bị kiện có kháng cáo nhưng không có tài liệu, chứng cứ mới chứng minh. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; Bác yêu cầu kháng cáo của người bị kiện; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người có kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính,
I/Bác yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B;
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 2012/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1/Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện bà Phạm Thị Kim M
1.1/Hủy phần nội dung không tổ chức bồi thường tổ chức hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện tại Phiếu chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ số 4138/PCT-BBT ngày 30 tháng 8 năm 2018 của Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng huyện B được Ủy ban nhân dân huyện B phê duyệt tại Quyết định số 8134/QĐ-UBND ngày 06/9/2018.
Ủy ban nhân dân huyện B phải thực hiện hỗ trợ đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
1.2/Hủy phần nội dung không hỗ trợ đối với đất ở, nhà ở và bồi thường tài sản là giếng khoan và đồng hồ điện tại quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 5006/QĐ-UBND ngày 12/5/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
2/Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
II/Án phí hành chính phúc thẩm:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001137 ngày 08/12/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Huy Cầu |
Bản án số 557/2024/HC-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 557/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
