|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 557/2024/DS-PT Ngày: 22-11-2024 V/v “Tranh cấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Tuấn;
Ông Trần Thanh Tòng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 420/2024/TLPT-DS, ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 532/2024/QĐ-PT, ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 157/2024/QĐ-PT, ngày 14 tháng 11 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Ngọc Đ, sinh năm 1979 và bà Đậu Thị Thanh H, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có uỷ quyền.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1985; địa chỉ: Số H, Đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 15-3-2023; có mặt.
- Bị đơn: Ông Hồ Minh B, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1978; cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có uỷ quyền.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 16-5-2023; có mặt.
Người được bà N ủy quyền lại: Ông Lê Hòa Thái S, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; theo Hợp đồng ủy quyền lại ngày 28-6-2023; có mặt
- Người kháng cáo: Ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim L bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H là ông Nguyễn Đức C trình bày:
Ngày 16-6-2011, ông Đ, bà H có nhận chuyển nhượng của ông B, bà K quyền sử dụng đất diện tích 4,5m x 40m, tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, với giá 31.500.000 đồng. Ông Đ, bà H đã giao trước 26.500.000 đồng, hai bên thỏa thuận khi nào ông Đ, bà H được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ giao 5.000.000 đồng còn lại. Khi chuyển nhượng có lập giấy bán đất cả hai bên cùng ký tên và có người làm chứng ký tên xác nhận, nhưng không có công chứng, chứng thực, bản chính giấy bán đất giao cho ông Đ, bà H giữ.
Khi chuyển nhượng chưa đo đạc chính xác mà hai bên chỉ tự kéo dây đo. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Đ, bà H đã nhận quyền sử dụng đất, xây hàng rào bao quanh đất và trồng cây ăn trái đến nay, không có ai ngăn cản. Ban đầu hai bên thỏa thuận ông B, bà K sẽ làm thủ tục tách thửa nhưng ông B, bà K không làm.
Trong thời điểm năm 2011, 2012 ông B, bà K cũng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho 04 hộ khác là hộ ông Trịnh Văn Đ1, bà Dư Thị H1; hộ ông Phan Văn L1, bà Nguyễn Thị L2; hộ ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị T và bà Võ Thị Kim L4 chung thửa đất chuyển nhượng cho ông Đ, bà H, nên các hộ dân thỏa thuận giao cho bà H làm thủ tục sang tên cho tất cả 05 hộ. Năm 2020, ông B và bà K đã giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H để làm thủ tục hiến đất làm đường, tách thửa, sang tên. Ban đầu, ông B và bà K đã ký hồ sơ hiến đất làm đường, nhưng do hồ sơ bị sai mẫu phải làm lại nên bà H nhờ ông B, bà K ký lại hồ sơ nhưng ông B, bà K không ký nên phát sinh tranh chấp.
Qua đo đạc thực tế, quyền sử dụng đất ông Đ, bà H nhận chuyển nhượng từ ông B, bà K có diện tích 178,2m², loại đất LUC, trong thửa đất số 99, 146 tờ bản đồ số 33, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Nay ông Đ, bà H yêu cầu ông B, bà K tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất diện tích 178,2m², loại đất LUC, trong thửa đất số 99, 146, tờ bản đồ số 33, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho ông Đ, bà H và ông Đ, bà H sẽ trả cho ông B, bà K số tiền 5.000.000 đồng còn lại.
Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B, bà Kim hiện bà H vẫn đang giữ, không thế chấp cho ai.
Theo các lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K là ông Lê Hòa Thái S trình bày:
Ông B và bà K thừa nhận có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà H như lời trình bày của ông C. Thời điểm chuyển nhượng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B, bà K đang thế chấp tại ngân hàng nên chưa làm thủ tục sang tên được. Đến năm 2020 ông B, bà K mới trả được nợ ngân hàng lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về. Khi đó bà H có nhận làm thủ tục tách thửa, sang tên cho 05 hộ đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông B, bà K. Ban đầu, bà H nói làm thủ tục hiến đất làm đường để có con đường mới tách thửa được, ông B và bà K đã hợp tác, ký tất cả các giấy tờ xong. Sau đó vài tháng bà H lại yêu cầu ông B, bà K ký lại các giấy tờ khác với lý do các giấy tờ đã ký trước đó bị sai mẫu, ông B và bà K yêu cầu bà H giao lại các hồ sơ cũ thì mới ký lại hồ sơ mới nhưng bà H không giao nên ông B, bà K không ký.
Nay ông B, bà K đồng ý thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà H theo diện tích đo đạc thực tế. Yêu cầu ông Đ, bà H thanh toán lại cho ông B, bà K số tiền chuyển nhượng còn thiếu là 5.000.000 đồng tính theo giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiện nay.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim .
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H và ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K theo giấy bán đất ngày 16-6-2011.
Ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H được tiếp tục sử dụng diện tích đất 178,2m², loại đất LUC, trong thửa đất số 99, 146, tờ bản đồ số 33, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận như sau:
Phía Đông giáp đất ông B, bà K trong thửa số 99 và thửa số 146 dài 39,61m + 2,39m;
Phía Tây giáp phần đất ông B, bà K chuyển nhượng cho ông L3, bà T trong thửa số 99 và thửa số 146 dài 39,7m + 2,42m;
Phía Nam giáp đất ông B, bà K trong thửa số 146 dài 4,51m;
Phía Bắc giáp đường nhựa (không thể hiện trên bản đồ chính quy) dài 4,48m.
Và các tài sản gắn liền với đất.
(Có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01788 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim N1 12-5-2009, và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H theo quyết định của bản án.
2. Ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H có nghĩa vụ trả cho ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả cho ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H số tiền 19.000.000 (Mười chín triệu) đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20-8-2024, bị đơn ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; ông B, bà K đồng ý trả lại số tiền đã nhận của nguyên đơn;
- Nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận
- Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng,
đề nghị nguyên đơn thanh toán lại cho bị đơn số tiền còn thiếu theo giá thị trường và cùng chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản với bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim G nguyên yêu cầu kháng cáo của ông B, bà Kim
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim . Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; sửa bản án sơ thẩm; Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H vắng mặt có ủy quyền cho người đại diện là ông Nguyễn Đức C tham gia phiên tòa. Bị đơn ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K vắng mặt có ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Huỳnh N, bà N uỷ quyền lại cho ông Lê Hòa Thái S; bà N và ông S có mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20 tháng 8 năm 2024, bị đơn ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của ông B, bà K trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Người đại diện của nguyên đơn, ông Nguyễn Đức C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Hòa Thái S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K
đề nghị nguyên đơn thanh toán lại cho bị đơn số tiền còn thiếu theo giá thị trường và cùng chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản với bị đơn.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K
[3.1] Ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K kháng cáo yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K với ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H; Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1.1] Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả đo đạc, định giá thể hiện: Phần đất tranh chấp có diện tích 178,2m², loại đất LUC, thuộc một phần thửa đất số 99 và 146, tờ bản đồ số 33, đất toạ lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có tứ cận như sau:
Hướng Đông giáp đất ông B, bà K trong thửa số 99 và thửa số 146 dài 39,61m + 2,39m;
Hướng Tây giáp phần đất ông B, bà K chuyển nhượng cho ông L3, bà T trong thửa số 99 và thửa số 146 dài 39,7m + 2,42m;
Hướng Nam giáp đất ông B, bà K trong thửa số 146 dài 4,51m;
Hướng Bắc giáp đường nhựa (không thể hiện trên bản đồ chính quy) dài 4,48m.
Giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm tháng 9-2023 là 235.565.075 đồng (tương đương 1.321.914 đồng/m²).
Tài sản trên đất gồm có hàng rào lưới B40 và các cây ăn trái do ông Đ, bà H trồng, có giá trị 25.793.000 đồng.
[3.1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các bên đương sự thống nhất xác nhận: Ngày 16-6-2011, ông B, bà K có chuyển nhượng cho ông Đ, bà H phần đất diện tích 4,5m x 40m với giá 31.500.000 (Ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn) đồng; ông Đ, bà H đã thanh toán trước số tiền 26.500.000 đồng. Hai bên thỏa thuận khi nào ông Đ, bà H được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ giao 5.000.000 đồng còn lại. Sau khi nhận chuyển nhượng và giao tiền xong; ông Đ, bà H đã nhận quyền sử dụng đất, xây hàng rào xung quanh đất; trồng cây ăn trái và quản lý, sử dụng cho đến nay, không có ai ngăn cản, tranh chấp.
[3.1.3] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B, bà K và ông Đ, bà H được thực hiện bằng giấy tay bán đất, không có lập hợp đồng chuyển nhượng và không được công chứng, chứng thực là vi phạm quy định về hình thức hợp đồng. Tuy nhiên, sau khi ký giấy bán đất, ông Đ, bà H đã thanh toán được hơn hai phần ba giá trị quyền sử dụng đất cho ông B, bà K; đồng thời ông B, bà K đã giao toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà H quản lý, sử dụng,
đổ đất, xây hàng rào, trồng cây ăn trái trên đất và sử dụng đất ổn định từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay.
Ngoài ra, mặc dù loại đất trong giao dịch chuyển nhượng là đất LUC nhưng hiện tại thực tế phần đất tranh chấp tiếp giáp với đường giao thông công cộng và không còn được sử dụng để trồng lúa.
Toà án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 và áp dụng Án lệ số 55/2022/AL của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; đã xét xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ, bà H với ông B, bà K theo giấy bán đất ngày 16-6-2011 là có căn cứ và phù hợp với thực tế sử dụng đất.
Do đó, bị đơn ông B, bà K kháng cáo yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B, bà K với ông Đ, bà H là không có căn cứ.
[3.2] Đối với kháng cáo yêu cầu ông Đ, bà H thanh toán số tiền còn lại theo giấy bán đất ngày 16-6-2011, với số tiền 5.000.000 đồng còn lại tính theo giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường hiện nay.
Hội đồng xét xử xét thấy: việc các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng từ năm 2011, đến thời điểm xét xử đã hơn 10 năm, giá trị quyền sử dụng đất có sự chênh lệch. Tuy nhiên, nguyên nhân ông Đ, bà H chưa thanh toán cho ông B, Bà K số tiền 5.000.000 đồng còn lại là do hai bên thỏa thuận khi nào ông Đ, bà H được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới thanh toán, nhưng do vào năm 2020, ông B và bà K không đồng ý ký tên vào hồ sơ để làm thủ tục hiến đất làm đường, tách thửa nên ông Đ, bà H không làm thủ tục sang tên được và kéo dài cho đến khi phát sinh tranh chấp. Như vậy, lỗi dẫn đến việc làm thủ tục chuyển nhượng không thực hiện được đến nay là do ông B, bà K. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không tính chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất bằng giá thực tế hiện nay và buộc ông Đ, bà H tiếp tục thanh toán cho ông B, bà K số tiền 5.000.000 đồng là có căn cứ.
[3.3] Đối với kháng cáo về chi phí tố tụng: Bị đơn ông B, bà K cho rằng ông Đ, bà H phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 19.000.000 đồng do yêu cầu không được chấp nhận; thấy rằng: Căn cứ vào Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận; nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 19.000.000 đồng.
[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim P chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 157, 165, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 121, 122, 124, 697 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 117, 119, 129, 500, 501, 502, 503, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 106, 113, Luật Đất đai năm 2003; Khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Án lệ số 55/2022/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim .
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H và ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K theo giấy bán đất ngày 16-6-2011.
Ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H được tiếp tục sử dụng diện tích đất 178,2m², loại đất LUC, trong thửa đất số 99, 146, tờ bản đồ số 33, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận như sau:
Phía Đông giáp đất ông B, bà K trong thửa số 99 và thửa số 146 dài 39,61m + 2,39m;
Phía Tây giáp phần đất ông B, bà K chuyển nhượng cho ông L3, bà T trong thửa số 99 và thửa số 146 dài 39,7m + 2,42m;
Phía Nam giáp đất ông B, bà K trong thửa số 146 dài 4,51m;
Phía Bắc giáp đường nhựa (không thể hiện trên bản đồ chính quy) dài 4,48m.
Và các tài sản gắn liền với đất.
(Có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01788 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim N1 12-5-2009, và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H theo quyết định của bản án.
2. Ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H có nghĩa vụ trả cho ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả cho ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H số tiền 19.000.000 (Mười chín triệu) đồng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đậu Thị Thanh H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027149, ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ông Đ, bà H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim P chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Hồ Minh B, bà Nguyễn Thị Kim P chịu 300.000 đồng; được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số: 0015764 ngày 21-8-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ông B, bà K đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
Bản án số 557/2024/DS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 557/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh cấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
