TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 556/2024/HS-ST Ngày: 15-10-2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chính.
Bà Lê Thị Lan.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 562/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 556/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Quốc T, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1995 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: B tổ H, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Hồ Thị L, sinh năm 1973; Gia đình bị cáo có 03 anh, em; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 28/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt)
2. Trần Đình M, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1997 tại Nam Định; Nơi cư trú: 65 tổ C, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Quốc T2, sinh năm 1971 và bà Ngô Thị K, sinh năm 1973; Gia đình bị cáo có 02 anh, em; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ tên Nguyễn Ngọc Kiều T3, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 28/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quốc T và Trần Đình M là người sử dụng trái phép chất ma túy.
Để có tiền mua ma túy sử dụng, Phạm Quốc T đã nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy như sau:
Từ ngày 10/4/2024 đến ngày 24/5/2024, T đã 02 lần đi đến khu Công nghệ cao thuộc thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh mua của đối tượng tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) mỗi lần 01 gói ma túy tổng hợp (ma túy đá) với giá 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Sau đó, T mang gói ma túy về nhà T tại B, tổ H, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai lấy một phần ma túy ra sử dụng, phần còn lại chia thành nhiều gói nhỏ để bán cho các con nghiện (Lần 01 chia thành 06 gói nhỏ, lần 02 chia thành 03 gói nhỏ). Khi người nghiện có nhu cầu sẽ đến nhà T tại địa chỉ nêu trên để mua ma túy. Cụ thể:
Lần 1: Ngày 10/4/2024 (không rõ giờ cụ thể), T bán cho Trần Đình M 01 gói ma túy tổng hợp với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Lần 2: Ngày 15/4/2024 (không rõ giờ cụ thể), T bán cho Trần Đình M 01 gói ma túy tổng hợp với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Lần 3: Ngày 28/4/2024 (không rõ giờ cụ thể), T bán cho Trần Đình M 01 gói ma túy tổng hợp với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Lần 4: Ngày 10/5/2024 (không rõ giờ cụ thể), T bán cho Trần Đình M 01 gói ma túy tổng hợp với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Lần 5: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28/5/2024, T bán cho Trần Đình M 01 gói ma túy tổng hợp với giá 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng), M chưa trả tiền. Sau khi mua ma túy, M cất giấu gói ma túy vừa mua được vào vỏ gói thuốc lá hiệu S rồi để trên ghế giữa 02 chân của M. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường A kiểm tra nhà T phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của Trần Đình M 01 gói ma túy tổng hợp vừa mua của T, thu của Phạm Quốc T 02 gói ma túy tổng hợp trong túi quần bên trái phía trước do T cất giấu để bán cho người nghiện.
Vật chứng thu giữ:
- 02 gói nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 cân điện tử màu đen (không rõ nhãn hiệu) của Phạm Quốc T.
- 01 gói nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Đình M.
- 01 điện thoại di động hiệu vivo Y21 (bị hư màn hình) của Phạm Quốc T.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, Imei 1: 35389810574057, thuê bao số 0774.600.600 của Trần Đình M.
Tại Bản kết luận giám định số 1140/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:
"- Mẫu chất màu trắng (M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,383 gam, loại Methamphetamine.
Mẫu chất màu trắng (M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,977 gam, loại Methamphetamine"
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Quốc T thừa nhận hành vi 05 lần bán ma túy cho Trần Đình M, còn Trần Đình M thì mua của T 01 gói ma tuý chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Phạm Quốc T, Trần Đình M không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như Kết luận giám định số 1140/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh Đ.
Bản cáo trạng số 553/CT-VKSBH ngày 23/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Phạm Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và Trần Đình M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Quốc T vẫn thừa nhận hành vi 05 lần bán ma túy cho Trần Đình M, còn Trần Đình M thì đang tàng trữ 01 gói ma tuý mua của T thì bị bắt quả tang phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Trần Đình M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Trần Đình M từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy sau khi giám định có khối lượng 3,261 gam và 01 cân điện tử màu đen không có giá trị sử dụng.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu hiệu vivo Y21 (bị hư màn hình) cho bị cáo Phạm Quốc T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, thuê bao số 0774.600.600 cho bị cáo Trần Đình M do không liên quan đến vụ án.
- Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo Phạm Quốc T nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
Bị cáo Trần Đình M nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trên cơ sở tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo có đủ cơ sở xác định:
Từ ngày 10/4/2024 đến ngày 28/5/2024, tại địa chỉ B, tổ H, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Phạm Quốc T có hành vi 05 lần bán ma túy cho Trần Đình M để sử dụng.
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 28/5/2024, Trần Đình M có hành vi mua của Phạm Quốc T 01 gói mua túy chưa kịp sử dụng thì bị Công an phường A bắt quả tang.
[3] Tại Kết luận giám định số 1140/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận:
“ Mẫu chất màu trắng (M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,383 gam, loại methamphetamine.
Mẫu chất màu trắng (M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,977 gam, loại methamphetamine"
[4] Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và bị cáo Trần Đình M phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, bản thân các bị cáo Phạm Quốc T, Trần Đình M là người nghiện ma túy, hiểu rất rõ tác hại của chất ma túy, là nguyên nhân và mầm móng lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, đồng thời cũng là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác nhưng các bị cáo bất chấp quy định cấm của pháp luật vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để cải tạo, răn đe đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
[6] Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng:
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu hiệu vivo Y21 (bị hư màn hình) cho bị cáo Phạm Quốc T, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, Imei 1: 35389810574057, thuê bao số 0774.600.600 cho bị cáo Trần Đình M do không liên quan đến vụ án.
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy (loại Methamphetamine) là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đã được niêm phong số 1140/KL-KTHS ngày 04/6/2024 có khối lượng 3,261 gam và 01 cân điện tử màu đen (không rõ nhãn hiệu) sử dụng vào việc phạm tội và là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
[10] Về vấn đề khác:
Đối với việc Phạm Quốc T khai vào ngày 20/4/2024, T đã 02 lần bán cho 02 người nghiện. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng mua ma túy của T nên chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T các lần này.
Đối với người tên C (chưa rõ nhân thân lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Phạm Quốc T. Hiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, xử lý.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Phạm Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và Trần Đình M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Trần Đình M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Trần Đình M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu hiệu vivo Y21 (bị hư màn hình) cho bị can Phạm Quốc Tuấn, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen, Imei 1: 35389810574057, thuê bao số 0774.600.600 cho bị can Trần Đình M do không liên quan đến vụ án.
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy (loại Methamphetamine) là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đã được niêm phong số 1140/KL-KTHS ngày 04/6/2024 có khối lượng 3,261 gam là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 cân điện tử màu đen (không rõ nhãn hiệu) sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị.
(Số vật chứng đang lưu giữa tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/9/2024).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Phạm Quốc T, Trần Đình M mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Quốc T, Trần Đình M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa;
- Cơ quan điều tra Công an TP. Biên Hòa;
- Cơ quan thi hành án hình sự TP. Biên Hòa;
- Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Anh Đức |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bản án số 556/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 556/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và Trần Đình M 01 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
