Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số 556/2024/HS-PT

Ngày: 15/7/2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng;
Ông Ong Thân Thắng.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Huyền, Thư ký viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 489/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Hà Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

Hà Thanh H, sinh ngày 27/11/1985 tại Nghệ An; ĐKHKTT và nơi cư trú: xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Ngọc S và bà Nguyễn Thị Q; có vợ Lang Thị Y và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân:

  • - Bản án số 21/2003/HSST ngày 28/5/2003, TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • - Bản án số 154/2014/HS-ST ngày 08/9/2014, TAND tỉnh Khánh Hoà xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • - Bản án số 118/2017/HS-ST ngày 26/9/2017, TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ra trại ngày 31/8/2019).

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Thanh H: Luật sư Nguyễn Thanh T – Đoàn Luật sư thành phố H.

Trong vụ án còn có bị cáo Hà Văn L cũng bị Toà án cấp sơ thẩm kết án về tội “trộm cắp tài sản”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định chiếm đoạt tài sản nên khoảng giữa năm 2021, Hà Văn L (sinh năm 1986; trú tại xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; thuê trọ ở tại số nhà B, đường T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội) đã theo dõi, quan sát và phát hiện vào buổi tối, nhiều trụ sở các UBND các xã, phường thuộc các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội thường vắng người qua lại, công tác bảo vệ có nhiều sơ hở. Trong khoảng thời gian từ ngày 09/7/2021 đến ngày 28/02/2023, Hà Văn L đã chuẩn bị các công cụ, phương tiện như xà cầy, đèn pin, găng tay, tô vít để thực hiện và rủ thêm em họ là Hà Thanh H (sinh năm 1985, cư trú: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An) cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại trụ sở các UBND xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tổng cộng Hà Văn L thực hiện 09 vụ trộm cắp chiếm đoạt tổng số tiền là 747.360.000 đồng, trong đó Hà Văn L cùng Hà Thanh H cùng nhau trộm cắp 04 vụ tổng số tiền chiếm đoạt là 398.500.000 đồng, cụ thể các lần Hà Thanh H cùng Hà Văn L trộm cắp như sau:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 04/01/2023, tại phòng trọ của Hà Văn L tại xã T, huyện T, Hà Nội, L rủ Hà Thanh H cùng đi đến UBND xã Y, huyện Q, Hà Nội để trộm cắp tài sản. Trước khi đi, L và H chuẩn bị xà cầy, tô vít, khẩu trang, găng tay và đèn pin làm công cụ phá khóa. Sau đó, L hỏi mượn chiếc xe máy hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 33L6-3335 của anh Lê Văn B (sinh năm 1989; trú tại xóm D, thôn Y, xã Đ, huyện Q, Hà Nội) và chở H đi đến trụ sở UBND xã Y. Khoảng 00 giờ ngày 05/01/2023, L và H đến nơi và cất giấu xe máy ở khu vực cánh đồng, cách trụ sở UBND xã Y khoảng 300m. L và H đeo găng tay; cầm theo xà cầy và đèn pin, trèo qua tường rào vào bên trong trụ sở UBND xã Y. Tại đây, cả hai dùng xà cầy phá cửa, đi vào phòng làm việc của Hội Liên hiệp phụ nữ - Đoàn Thanh niên xã Y, cậy phá tủ cá nhân của anh Nguyễn Phú T1 (sinh năm 1975; trú tại đội D, thôn Q, xã Y, huyện Q, Hà Nội; là Bí thư đoàn thanh niên xã Y) lấy được số tiền 13.000.000 đồng; cậy tủ cá nhân của anh Hoàng Đăng N (sinh năm 1986; trú tại thôn B, xã Y, huyện Q, Hà Nội - là Phó bí thư Đoàn thanh niên xã) lấy được số tiền 250.000 đồng. Tiếp theo, L và H dùng xà cầy phá cửa phòng làm việc của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã Y, Văn phòng UBND xã, đi vào phòng phá tủ cá nhân của anh Nguyễn Phú H1 (sinh năm 1982; trú tại đội E, thôn T, xã Y, huyện Q; là Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc xã) lấy được số tiền 2.000.000 đồng; phá tủ cá nhân của anh Vũ Danh T2 (sinh năm 1986; trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn Q, huyện Q; là cán bộ Văn phòng) lấy được số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, L và H1 theo lối cũ ra ngoài và lấy xe máy đi về nơi ở trọ.

Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn L và Hà Thanh H khai nhận đã trộm cắp được tổng số tiền là 16.750.000 đồng tại trụ sở UBND xã Y, huyện Q.

* Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Phú T1 yêu cầu các bị can Hà Văn L và Hà Thanh T3 phải bồi thường số tiền 13.000.000 đồng; anh Nguyễn Phú H1 yêu cầu bồi thường số tiền 2.000.000 đồng; anh Vũ Danh T2 yêu cầu bồi thường số tiền 1.500.000 đồng. Hiện bị can L và bị can H1 chưa bồi thường cho những người bị hại.

- Vụ thứ hai: Ngày 04/01/2023, Hà Văn L đi xe máy qua địa phận xã V, huyện Ứ, Hà Nội và quan sát thấy trụ sở UBND xã V cách xa khu dân cư, vắng người qua lại, có thể trộm cắp được. L gọi điện thoại rủ Hà Thanh H rủ đi trộm cắp thì H đồng ý. Ngày 05/01/2023, L mua 02 chiếc xà cầy, rồi quay lại trụ sở UBND xã V cất giấu xà cầy ở gần đó. Ngày 06/01/2023, H đi xe ô tô khách từ tỉnh Nghệ An ra thành phố Hà Nội và đi về phòng trọ của L tại số nhà B, đường T, xã T, T, Hà Nội. Khoảng 21 giờ ngày 06/01/2023, L điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 33L6-3335 chở H đi đến trụ sở UBND xã V và cất giấu xe máy ở gần đó. Đến khoảng 01 giờ ngày 07/01/2023, L và H đeo găng tay, cầm theo xà cầy, đèn pin đi bộ đến trụ sở UBND xã V, trèo qua tường rào bảo vệ vào bên trong, dùng xà cầy phá khoá cửa phòng làm việc, phá tủ cá nhân của ông Nguyễn Văn B1 (sinh năm 1964; trú tại xóm C, thôn P, xã V, huyện Ứ, Hà Nội; là Chủ tịch UBND xã) lấy được được số tiền 10.000.000 đồng; phá cửa phòng làm việc, phá két sắt của bà Lê Thị H2 (sinh năm 1972; trú tại thôn V, xã V, huyện Ứ, Hà Nội; là Chủ tịch Hội phụ nữ xã) lấy được số tiền 19.500.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo lấy trộm là 29.500.000 đồng. Sau khi lấy được tài sản, L và H trèo ra ngoài theo hướng đã đột nhập ra lấy xe máy đi về nơi ở trọ.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Hà Văn L và Hà Thanh H khai nhận chỉ lấy được số tiền là 19.500.000 đồng tại UBND xã V. Lai chia cho H số tiền 11.500.000 đồng.

* Trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn B1 yêu cầu các bị can Hà Văn L và Hà Thanh T3 phải bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; bà Lê Thị H2 yêu cầu các bị can bồi thường số tiền 19.500.000 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn B1 (Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V) yêu cầu hai bị can bồi thường giá trị của chiếc két sắt và 05 ổ khoá bị hư hỏng là 350.000 đồng. Bị can L và bị can H chưa bồi thường cho các bị hại.

- Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 11/01/2023, Hà Văn L điều khiển xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 33L6-3335 chở Hà Thanh H đến khu vực nghĩa trang gần UBND phường C, quận B, Hà Nội và cất giấu xe máy tại đây. Sau đó, L và H đeo găng tay, cầm theo xà cầy, đèn pin đi bộ đến trụ sở UBND phường C, trèo tường bảo vệ vào bên trong. Tại đây, L và H dùng xà cầy phá cửa phòng làm việc, phá tủ cá nhân của anh Nguyễn Thái H3 (sinh năm 1985; trú tại tổ dân phố số D, phường X, quận B, Hà Nội; là cán bộ Địa chính xã) lấy được số tiền 26.000.000 đồng; phá cửa phòng làm việc, phá tủ cá nhân của ông Lê Hồng K (sinh năm 1957; trú tại tổ dân phố Đ, phường C, quận B, Hà Nội; là Chủ tịch Hội cựu chiến binh) lấy được số tiền 9.000.000 đồng; phá cửa phòng làm việc và tủ cá nhân của anh Vũ Duy H4 (sinh năm 1983; trú tại số nhà C, đường T, quận T, Hà Nội; là Chủ tịch UBND phường) lấy được 30.000.000 đồng; phá cửa phòng làm việc, phá tủ cá nhân của chị Nguyễn Thị T4 (sinh năm 1986; trú tại tổ dân phố H, phường C, quận B; là cán bộ UBND phường) lấy được 100.000.000 đồng. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, thu thập được trong quá trình điều tra, có đủ căn cứ xác định số tiền do L và H4 trộm cắp được tại trụ sở UBND phường C 2 là 165.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải bị can Hà Văn L, Hà Thanh H để xác định địa điểm, vị trí L, H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và tiến hành thực nghiệm điều tra. Kết quả dẫn giải và thực nghiệm điều tra đối với L, H phù hợp với lời khai của những người bị hại; phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Tại Cơ quan điều tra, bị can Hà Văn L và Hà Thanh H chỉ thừa nhận số tiền trộm cắp được tại UBND phường C là là 115.000.000 đồng..

* Trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thái H3 yêu cầu các bị can L và H bồi thường số tiền 26.000.000 đồng; ông Lê Hồng K yêu cầu bồi thường số tiền 9.000.000 đồng; ông Vũ Duy H4 yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị T4 yêu cầu bồi thường số tiền 100.000.000 đồng. Hiện các bị can L và H4 chưa bồi thường cho những người bị hại.

- Vụ thứ tư: Ngày 27/02/2023, Hà Văn L đang ở Hà Nội gọi điện thoại cho Hà Thanh H rủ đi trộm cắp tài sản tại UBND phường P, quận B, Hà Nội. H đồng ý và đi xe khách từ tỉnh Nghệ An ra thành phố Hà Nội và đến nơi ở trọ của L. Sau đó, L mua 02 xà cầy cất giấu ở bụi cây gần ga P. Đến khoảng 21 giờ ngày 27/02/2023, L điều khiển xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 33L6-3335 chở H đến bụi cây gần trụ sở UBND phường P lấy 02 chiếc xà cầy đã cất giấu trước đó. Cả hai tiếp tục đi đến nghĩa trang phường P cất giấu xe máy và chờ đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 28/02/2023, L và H đeo găng tay, cầm xà cầy, đèn pin đi bộ đến phía sau trụ sở UBND phường P rồi trèo tường vào bên trong. L và H đi đến các phòng của khối Uỷ ban cậy cửa các phòng làm việc, phá cửa phòng Hội cựu chiến binh và tủ cá nhân của ông Nguyễn Viết K1 (sinh năm 1959, trú tại tổ A, phường P, quận B; là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh) trộm cắp được số tiền 27.500.000 đồng; phá tủ cá nhân của ông Vũ Hùng T5 (sinh năm1958; trú tại tổ A, xã P, quận B; là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh) trộm cắp được số tiền 4.000.000 đồng; phá cửa phòng Văn phòng uỷ ban và két sắt của chị Cao Thị Thùy T6 (sinh năm 1982; trú tại tổ dân phố B, phường T, quận B; là Công chức Văn phòng) trộm cắp được số tiền 15.000.000 đồng; phá cửa phòng Hội Liên hiệp phụ nữ và tủ cá nhân của chị Nguyễn Thị Thanh T7 (sinh năm 1989; trú tại tổ A, phường P, quận B; là Chủ tịch Hội L2) trộm cắp được số tiền 120.750.000 đồng; phá cửa phòng Đảng uỷ phường và tủ cá nhân của bà Nguyễn Thị B2 (sinh năm 1970; trú tại phường T, quận B; là Phó Bí thư Đảng uỷ phường) trộm cắp được số tiền 2.000.000 đồng và phá cửa phòng Văn phòng, tủ cá nhân của chị Đặng Thị Hoàng O (sinh năm 1985; trú tại tổ A, phường P, quận B; là cán bộ Văn phòng phường) trộm cắp được số tiền 18.000.000 đồng. Sau đó, L và H theo lối cũ trèo ra ngoài và lấy xe máy đi về nơi ở trọ của L, chia nhau số tiền trộm cắp được. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, thu thập được trong quá trình điều tra, có đủ căn cứ xác định số tiền L, H trộm cắp tại UBND phường P là 187.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can Hà Văn L và Hà Thanh H chỉ nhận chiếm đoạt được tổng số tiền tại trụ sở UBND phường P là 133.000.000 đồng.

* Trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Viết K1 yêu cầu các bị can L và H bồi thường số tiền 27.500.000 đồng; ông Vũ Hùng T5 yêu cầu bồi thường số tiền 4.000.000 đồng; chị Cao Thị Thùy T6 yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thanh T7 yêu cầu bồi thường số tiền 120.750.000 đồng, Đặng Thị Hoàng O yêu cầu bồi thường 18.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị B2 yêu cầu bồi thường số tiền 2.000.000 đồng. Hiện bị can L và bị can H chưa bồi thường cho những người bị hại.

Ngày 05/3/2023; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Hà Nội ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường khẩn cấp đối với Hà Văn L; ngày 15/3/2023, Hà Thanh H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đầu thú về hành vi Trộm cắp tài sản. Tại Cơ quan điều tra Hà Văn L, Hà Thanh H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngoài 04 lần trộm cắp cùng Hà Thanh H thì Hà Văn L còn 01 mình thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản tại các trụ sở Uỷ ban nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội, cụ thể là:

  1. Khoảng 00h ngày 09/7/2021, Hà Văn L đột nhập trụ sở UBND xã T, huyện T chiếm đoạt của chị Phùng Thị N1 số tiền 58.000.000 đồng; chiếm đoạt của chị Đặng Thị T8 số tiền 1.060.000 đồng;
  2. Khoảng 01h ngày 11/7/2021, Hà Văn L đột nhập tại trụ sở UBND xã H, huyện T chiếm đoạt Đinh Thị L1 số tiến 14.000.000 đồng, chiếm đoạt của chị V Giáng Hương số tiền 800.000 đồng, chiếm đoạt của anh Hoàng Văn T9 2.000.000 đồng;
  3. Khoảng 01h ngày 18/8/2022, Hà Văn L đột nhập vào trụ sở UBND phường C (lần thứ nhất) chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Minh T10 số tiền 180.000.000 đồng;
  4. Khoảng 01h ngày 18/8/2022, Hà Văn L đột nhập vào trụ sở U, quận H chiếm đoạt của chị Đoàn Thị Bích V1 số tiền là 10.000.000 đồng;
  5. Khoảng 01h ngày 11/10/2022, Hà Văn L đột nhập vào trụ sở UBND phường T, quận B chiếm đoạt chị Nguyễn Thanh T11 số tiền 68.000.000 đồng, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 15.000.000 đồng;

Cơ quan điều tra đã trưng cầu định giá tài sản bị hư hỏng và trưng cầu giám định dấu vết trên vật chứng thu giữ. Kết quả như sau:

  • - Tại bản Kết luận định giá số 14/KL-HĐĐGTS ngày 03/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ứ, về tài sản do Hà Văn L và Hà Thanh H huỷ hoại, kết luận: “... 01 két sắt nhãn hiệu Viet Tiep trị giá 300.000 đồng, 05 ổ khoá nhãn hiệu Viet Tiep trị giá 50.000 đồng. Tổng cộng là 350.000 đồng”.
  • - Tại bản Kết luận giám định số 6415/PC09-SH ngày 24/8/2021 của Phòng K2 - Công an thành phố H về dấu vết sinh học trên đầu mẩu thuốc lá đã thu giữ khi khám nghiệm hiện trường, kết luận: “... Trên đầu mẩu thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long dài 04cm, đã hút dở, có tế bào của người nam giới”.
  • - Tại bản Kết luận giám định số 6309/KL-KTHS ngày 25/9/2023 của Phòng K2 - Công an thành H về kiểu gen của Hà Văn L với kiểu gen trên đầu mẩu thuốc lá đã thu giữ khi khám nghiệm hiện trường, kết luận: “... Mẫu ADN của Hà Văn L (sinh năm 1986; trú tại xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An) có kiểu gen trùng với kiểu gen thu được trên đầu mẩu thuốc lá Thăng Long ở hiện trường vụ trộm cắp tài sản ngày 09/7/2021 tại trụ sở UBND xã T, huyện Q, Hà Nội ”...
  • - Tại bản Kết luận giám định số 8627/PC09-Đ3 ngày 06/12/2022 của Phòng K2 - Công an thành H về dấu vết đường vân trên vật chứng đã thu giữ khi khám nghiệm hiện trường, kết luận: “... Trên 04 túi nilon nhãn hiệu My Clear Bar, 03 vỏ phong bì, 01 vỏ hộp bánh hiệu DANISA bằng kim loại có đường kính 15cm cao 06cm, 01 bao thuốc lá hiệu Thăng Long có kích thước (09x5,5x2,2)cm bên trong còn 08 điếu thuốc, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ có kích thước (7,5x02x0,7)cm gửi giám định không phát hiện dấu vết đường vân ...”

Đối với 01 chiếc tôvít màu xanh, 02 hộp kim loại có chữ ALPHA LIPID, 01 phong bì và 01 hộp kim loại hình chữ nhật đã thu giữ. Kết quả điều tra xác định số tài sản trên thuộc quản lý của UBND xã Y, huyện Q. Ngày 14/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại các đồ vật, tài sản trên cho anh Vũ Danh T2 (là người được UBND xã Y uỷ quyền tham gia giải quyết vụ án).

Đối với 01 thanh gỗ, 01 đầu búa sắt, 01 chiếc kìm sắt, 01 phong bì giấy màu trắng và 01 miếng nhựa màu trắng đã thu giữ. Kết quả điều tra xác định đây là tài sản thuộc quản lý của UBND phường C. Ngày 03/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã quyết định xử lý vật chứng trao trả số đồ vật, tài sản trên cho anh Lưu Thành Đ (là người được UBND phường C uỷ quyền tham gia giải quyết vụ án).

Đối với 05 túi C và 02 bìa sổ sách được xác định là tài sản do chị Phùng Thị N2 quản lý; 03 chiếc vỏ phong bì và 01 chiếc vỏ hộp bánh DANISA là tài sản của chị Đặng Trị T12. Ngày 12/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quyết định xử lý vật chứng trả lại số đồ vật, tài sản trên cho chị N2 và chị T12.

Đối với Hà Văn L và Hà Thanh H có hành vi phá hỏng chiếc két sắt và ổ khoá Việt Tiệp tại trụ sở UBND xã V, huyện Ứ vào ngày 07/01/2023, gây thiệt hại 350.000 đồng nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 10/10/2023, Phòng K2 - Công an thành phố H đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L và H về hành vi “Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức” bằng hình thức phạt tiền, mỗi người 4.000.000 đồng.

Đối với anh Lê Văn B là người cho Hà Văn L mượn chiếc xe máy biển kiểm sát 33L6-3335, kết quả điều tra xác định, anh Lê Văn B không biết L mượn xe của anh B để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không đồng phạm với L. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh B.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2024/HS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Thanh H 10 (M1) năm tù về tội “trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/3/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Hà Văn L, quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/4/2024, bị cáo Hà Thanh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: bị cáo giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo được bị cáo Hà Văn L rủ đi trộm cắp, tổng số tiền bị cáo L trộm cắp được bao nhiêu bị cáo không nắm được cụ thể, bị cáo chỉ biết được số tiền mà bị cáo L chia cho. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân đang có bệnh và đã tác động gia đình nộp tiền án phí và tiền bồi thường thiệt hại cho những người bị hại.

Ông Hà Ngọc S- bố đẻ của bị cáo xuất trình Biên lai số 0065712 ngày 15/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội về việc nộp thay cho bị cáo Hà Thanh H số tiền 46.182.000 đồng án phí sơ thẩm và một phần số tiền bồi thường cho bị hại.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và có tình tiết giảm nhẹ mới là đã bồi thường khắc phục hậu quả cho những bị hại

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: căn cứ vào các tình tiết mới tại phiên toà, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau

[1] Về tố tụng: Ngày 21/3/2024, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 02/4/2024, bị cáo Hà Thanh H kháng cáo là trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Bị cáo Hà Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án; đối với số tiền chiếm đoạt của bị hại, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo H khai không rõ tổng số tiền chiếm đoạt là bao nhiêu vì bị cáo Hà Văn L cầm tiền và bị cáo H chỉ biết số tiền được bị cáo L chia cho; căn cứ vào đơn trình báo của bị hại, lời khai của bị hại, bị cáo, người làm chứng, các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 04/01/2023 đến ngày 28/02/2023, theo sự rủ rê của Hà Văn L, Hà Thanh H đã cùng L thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại trụ sở các UBND xã, phường trên địa bàn thành phố Hà Nội, chiếm đoạt tổng số tiền là 398.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự (trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng).

[3] Về hình phạt: Khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Bị cáo có nhân thân xấu, đã được cải tạo giáo dục song không chịu tu dưỡng lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội cùng loại; lần này phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Mặc dù là đồng phạm nhưng bị cáo Hà Thanh H có quá trình phạm tội rất tích cực. Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu riêng về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tâm lý của các cán bộ công chức Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng bất bình trong nhân dân. Do vậy, mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc diện hộ cận nghèo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tại cấp sơ thẩm bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho các bị hại, nên Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 10 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” đã là phù hợp, đúng quy định pháp luật,

[4] Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Hà Thanh H khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo H đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục 01 phần hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại và nộp án phí hình sự sơ thẩm (theo biên lai số 0065712 ngày 15/7/20024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội là 46.182.000 đồng), đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa phúc thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về án phí: Bị cáo Hà Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Thanh H; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2024/HS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Hà Thanh H.
  2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Thanh H 09 (Chín) năm tù về tội “trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/3/2023.
  3. Về án phí: Bị cáo Hà Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1- TANDTC;
  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo (qua Trại giam);
  • - Lưu HS; HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ong Thân Thắng

Nguyễn Tiến Dũng

Trần Thị Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 556/2024/HS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 556/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Thanh H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger