Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 555/2025/HS-PT

Ngày: 12/12/2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đoàn;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Phương Hạnh;
Bà Hoàng Thị Bích Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Thư ký Tòa Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 583/2025/TL-PT ngày 04/11/2025 đối với bị cáo Trần Đặng Anh T do có kháng cáo của bị cáo Trần Đặng Anh T và bị hại ông Lê Hiệp D, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 707/2025/HS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo

Trần Đặng Anh T, sinh ngày 27/9/1983 tại Nghệ An; số CCCD: [...]; nơi cư trú: Số nhà A, Biệt thự B, khu B bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường H, thành phố Hà Nội); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Ngọc T1; con bà Lê Thị H1; vợ: Nguyễn Thị V, có 03 con: Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam từ ngày 19/9/2024; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo do Toà án chỉ định: Luật sư Lê Hồng Kỳ Công ty L thuộc đoàn Luật sư thành phố H (có mặt)

Bị hại: Ông Lê Hiệp D, sinh năm 1954 (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà I đường Đ, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường B, thành phố Hà Nội).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1987 (vợ của bị cáo Trần Đặng Anh T, có mặt).

Địa chỉ: Biệt thự B, khu B, phường H, thành phố Hà Nội (nay là phường H, thành phố Hà Nội).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2019, ông Lê Hiệp D và Trần Đặng Anh T có nhu cầu mua bán bất động sản nên quen biết nhau. T có nhu cầu mua đất, còn ông D muốn bán căn nhà của mình có diện tích 92,8m² tại số D, ngõ I, đường V, phường X, quận T, thành phố Hà Nội (nay là phường N, thành phố Hà Nội). Ngày 18/3/2020, T đặt cọc cho ông D số tiền 200.000.000 đồng để mua căn nhà trên của ông D. Khoảng một tuần sau, ông D gọi điện thoại cho T báo mẹ ông D không đồng ý bán nữa và xin đền cọc cho T. Sau đó, ông D đã đền cọc cho T số tiền 800.000.000 đồng, hai bên làm giấy xác nhận, việc đền cọc là hai bên tự nguyện, vụ việc này đã được giải quyết xong.

Khoảng đầu năm 2021, ông D biết ông Nguyễn Mạnh T2 muốn bán gấp mảnh đất đang xây khách sạn S ở địa chỉ số nhà D, ngõ I, đường X, phường X, quận T, thành phố Hà Nội; thửa đất này ở phía trong, sát nhà ông D. Lúc này, ông D đang tìm người mua nhà của mình với giá cao nên tìm luôn cả người có nhu cầu mua khách sạn của ông T2 để ở giữa được hưởng tiền chênh môi giới. Ông D bảo Trần Đặng Anh T cùng tìm người mua khách sạn của ông T2, nếu giao dịch thành công thì số tiền chênh lệch ở giữa cả hai sẽ chia đôi. T đồng ý và bảo ông D để T trực tiếp liên hệ với ông T2 hỏi mua khách sạn với giá thấp. Sau đó, ông D và T đều không tìm được người mua khách sạn của ông T2 và ông T2 cũng không còn nhu cầu bán khách sạn nữa.

Tháng 05/2021, lợi dụng sự tin tưởng của ông D và việc ông D đang phải cách ly do dịch bệnh Covid 19, T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông D. T nói dối ông D là đã làm việc với ông Nguyễn Mạnh T2 để mua mảnh đất có khách sạn S với giá là 57.000.000.000 đồng, yêu cầu cọc là 5.700.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 10 ngày, nếu quá thời hạn 10 ngày sẽ bị mất tiền cọc. T sẽ đứng ra đàm phán, đảm bảo đặt cọc thay ông D và thực hiện các giao dịch để cùng mua chung mảnh đất trên; đồng thời, T sẽ tìm người mua cả hai mảnh đất (của ông T2 và ông D) và dùng chính số tiền của người mua này để trả tiền mua mảnh đất của ông T2, sau khi bán được sẽ chia đôi số tiền chênh lệch. Ông D tin tưởng nên đồng ý để T đứng ra thực hiện các giao dịch. Trong thời gian này, T không liên hệ với ông Nguyễn Mạnh T2 để mua khách sạn và không đưa tiền đặt cọc cho ông T2. Tuy nhiên đến ngày 20/3/2021, T nói với ông D là không tìm được người mua nên không có tiền để trả cho ông T2 và sẽ phải chịu mất số tiền đã cọc là 5.700.000.000 đồng; T nói có tác động nên ông T2 bớt cho số tiền 1.700.000.000 đồng, còn lại phải chịu phạt cọc số tiền 4.000.000.000 đồng. Do trước đó hai người thỏa thuận chung tiền mua nên T yêu cầu ông D phải chịu một nửa số tiền phạt cọc là 2.000.000.000 đồng và phải thanh toán ngay trong ngày 06/6/2021. Ông D tin tưởng T đã đặt cọc thật và bị phạt cọc, đồng thời bị T nhiều lần thúc ép nên trong thời gian phải cách ly do mắc Covid19, ông D đã nhờ bà Hoàng Thị N là đối tác giao dịch mua bán nhà với ông D) đưa tiền mặt cho T số tiền 1.500.000.000 đồng. Ngày 24/11/2021, tại trước cửa Ngân hàng L1 ở đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội (nay là phường Y, thành phố Hà Nội) ông D đã đưa cho T số tiền 300.000.000 đồng. Ngày 04/01/2022, T đến quán C1 ở số nhà D, đường Đ, phường L, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường B, thành phố Hà Nội) lấy 200.000.000 đồng của ông D ngay sau khi ông D nhận tiền của chị Trần Tuyết M là nhân viên của chị Hoàng Thị N đến trả nợ cho ông D. Lúc lấy tiền T nói: “Đây là tiền cháu đặt cọc cho ông T2 chủ khách sạn, cháu phải lấy lại, không cháu mất à”. Lúc này, có bà Trần Thị Kiều A (sinh năm 1964; là vợ ông D) chứng kiến.

Thời gian sau, ông D nghi ngờ T lừa đảo nên đã gặp trực tiếp ông Nguyễn Mạnh T2 để hỏi về việc ông T2 đã lấy tiền phạt cọc thì ông T2 cho biết không có việc ông T2 và T giao kết hay thực hiện Hợp đồng đặt cọc, ông T2 cũng không nhận bất kỳ khoản tiền nào của T. Ông D nhiều lần gặp T yêu cầu trả tiền nhưng T không trả nên ông D đã làm đơn gửi Cơ quan Công an tố giác hành vi của T. Khi tố giác, ông D giao nộp: 02 file ghi âm đề ngày 24/01/2020 và ngày 24/10/2022 lưu trong điện thoại Iphone 13, nội dung thể hiện việc ông D và T nói chuyện bị phạt tiền cọc.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định giọng nói trong 02 file ghi âm và trích các nội dung.

Tại bản Kết luận giám định số 6727/KH-KTHS ngày 29/3/2024 của V1 - Bộ C2 kết luận:

“... Không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung trong các file ghi âm mẫu cần giám định; tiếng nói của người đàn ông xưng “chú” trong file ghi âm mẫu cần giám định (ký hiệu là D trong bản dịch với tiếng nói của Lê Hiệp D trong mẫu so sánh là của cùng một người; tiếng nói của người đàn ông xưng “cháu” trong file ghi âm mẫu cần giám định (ký hiệu là T trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) với tiếng nói của Trần Đặng Anh T trong mẫu so sánh là của cùng một người”.

Nội dung các file ghi âm thể hiện:

  • - Ngày 24/01/2022, tại quán G ở số nhà A, phường B, quận H, thành phố Hà Nội, ông D và T nói lại việc T nhận của ông D 2.000.000.000 đồng để trả cho ông T2 tiền phạt cọc, T nói: “Cháu để cho xong việc cháu mới lấy của chú còn không chú phải trả ngay cháu hôm đấy là 2 tỷ”; “Còn không cháu phải vào đấy cháu ở đủ 4 tỷ chứ không phải là 2 tỷ...”.
  • - Ngày 24/10/2022, tại quán C3 ở số nhà G, phố T, phường B, quận H, thành phố Hà Nội, ông D và T nói lại việc T nhận của ông D 2.000.000.000 đồng để trả cho ông T2 tiền phạt cọc, T nói: “Tại vì cái vấn đề đấy là chú bảo là đặt cọc đi, đồng ý cháu nói với chú là nếu không, vì nó mình lại phải mất cọc, chú nhớ chưa”. T nói việc ông T2 bớt cho tiền cọc: “Tỷ 7”. T nói việc có giấy đặt cọc mua khách sạn của ông T2 mà T đã đưa cho ông D: “Cái giấy cháu đưa cho chú xong rồi”, “Cháu chụp ảnh đưa cho chú xong rồi chú”...

Quá trình chuẩn bị xét xử, Trần Đặng Anh T trình bày việc T lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Lê Hiệp D là do Phạm Mạnh H2 và vợ là Hoàng Thị N chỉ đạo. Chị Nguyễn Thị V (là vợ của T) đã xuất trình cho Cơ quan điều tra các file ghi âm, tin nhắn liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã tổ chức xác minh làm rõ, tuy nhiên chưa đủ căn cứ xác định H2 và N là người chỉ đạo T lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông D nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, ông Lê Hiệp D yêu cầu Trần Đặng Anh T phải trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng bị chiếm đoạt. Anh Nguyễn Xuân B (là bạn của T) đã khắc phục trả lại ông D số tiền 2.000.000.000 đồng, ông D đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.

Bản cáo trạng số 539/CT-VKSHN-P2 ngày 28/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Đặng Anh Tuấn về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa,

Bị cáo khai: Bị cáo chỉ nhận của ông D 500.000.000 đồng nhưng đã đưa cho ông H2. Bị cáo không nhận 1.500.000.000 đồng từ chị N mà chỉ xác nhận với ông D trên điện thoại là có nhận 1.500.000.000 đồng từ chị N nhưng thực tế thì bị cáo không nhận. Việc bị cáo xác nhận với ông D đã nhận 1.500.000.000 đồng là do bị cáo là nhân viên đi làm thuê cho vợ chồng anh H2, chị N. Đề nghị HĐXX xem xét cho hành vi của bị cáo chỉ chịu trách nhiệm hình sự về số tiền đã nhận 500.000.000 đồng.

Bị hại - ông D khai: Bị cáo có nhận của bị hại 500 triệu đồng. Đề nghị HĐXX xem xét ai là người nhận 1.500.000.000 đồng, khi nhận tiền phải có giấy biên nhận; tìm người chủ mưu để xử lý; yêu cầu chị N phải bồi thường cho ông 20% của 2.000.000.000 đồng; làm rõ vai trò của anh B; số tiền 2.000.000.000 đồng anh B mang đi bồi thường có phải tiền của anh H2 không?

Chị N khai: Ông D nhờ chị nhận tiền từ chị Ngọc A1 1.500.000.000 đồng để đưa cho bị cáo. Sau khi nhận 1.500.000.000 đồng, bị cáo đã xác nhận trên điện thoại với ông D. Chị không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Anh B khai: Anh là bạn của bị cáo, anh đã đi vay 1.500.000.000 đồng, anh có 500.000.000 đồng, tổng là 2.000.000.000 đồng để bồi thường cho ông D thay cho bị cáo. Anh không đề nghị nhận lại số tiền trên.

Anh H2 khai: Anh không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 707/2025/HS- ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Đặng Anh T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  2. Căn cứ Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2, Điều 51; điều 38, điều 54 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Đặng Anh T 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: không.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ngày 06/10/2025 bị hại ông Lê Hiệp D kháng cáo 1 phần Bản án, cho rằng bỏ lọt tội phạm.

Ngày 08/10/2025 bị cáo Trần Đặng Anh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 năm tù là quá nặng.

Ngày 05/12/2025 bị cáo có đơn xin rút kháng cáo (có xác nhận của Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H).

Tại phiên Toà phúc thẩm: Bị cáo tự nguyện rút kháng cáo. Đồng thời khai nhận hành vi phạm tội như Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại cho bị cáo để bị cáo sớm trở về cùng gia đình và xã hội.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Do bị cáo đã rút kháng cáo nên đề nghị HĐXX xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật và xem xét chấp nhận nội dung bị hại D xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về cùng gia đình và xã hội.

Tại phiên Toà phúc thẩm: Bị hại ông Lê Hiệp D giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét trả hồ sơ điều tra để làm rõ ai là người chủ mưu trong việc T lừa bị hại số tiền 02 tỷ đồng. Bị cáo là người trực tiếp nhận 500 triệu đồng, số còn lại do chị N là người đưa tiền cho bị cáo nhưng bị cáo khai không nhận được nhận 1,5 tỷ đồng. Tại phần tranh luận bị hại đề nghị xem xét việc Toà án sơ thẩm bỏ lọt tội phạm và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Chị Nguyễn Thị V trình bày: Hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, các con còn nhỏ, mẹ già nên đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm thấy rằng:

Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại làm trong hạn luật định, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 707/2025/HS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định về tội danh và áp dụng điều luật để quyết định hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ đúng người đúng tội, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp với tính chất hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đã xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Xét kháng cáo của bị cáo Trần Đặng Anh T về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm và tại phiên bị cáo bị cáo đã rút kháng cáo.

Do vậy đề nghị HĐXX phúc thẩm, căn cứ theo quy định tại Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Đặng Anh T.

Xét nội dung kháng cáo của bị hại:

- Về nội dung yêu cầu điều tra xét xử lại vụ án vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố xét các nội dung liên quan đến yêu cầu của bị hại đã được Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tại công văn số 15337/PC02-Đ5 ngày 19/8/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H về việc bổ sung tài liệu chứng cứ.

Tại Bản cáo trạng số 539/CT-VKSHN-P2 ngày 28/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Đặng Anh T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Do vậy không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị hại.

- Đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ của bị hại cho bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này chưa bị xét xử về tội danh nào khác, chưa bị xử lý hành chính, đã khai nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải, số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được khắc phục toàn bộ cho bị hại và tại phiên toà bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do vậy đề nghị HĐXX phúc thẩm áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại đối với bị cáo. Sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo từ 06 đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

1.1. Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại là hợp lệ, đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm:

Ngày 05/12/2025 Toà phúc thẩm nhận được đơn xin rút kháng cáo của bị cáo Trần Đặng Anh T theo phiếu chuyển đơn của Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.

Tại phiên Toà phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung xin rút kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ theo quy định tại Điều 348 và điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự . HĐXX phúc thẩm thấy rằng việc rút đơn kháng cáo của bị cáo là tự nguyện. Do vậy cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Đặng Anh T.

1.2. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:

Tại phiên Toà phúc thẩm bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về các quyết định hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Tuy nhiên bị hại ông Lê Hiệp D kháng cáo và cho rằng Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không khách quan vô tư trong việc giải quyết vụ án có dấu hiệu bỏ lọt đồng phạm và cần phải tiếp tục điều tra bổ sung để làm rõ vai trò đồng phạm của H2 – N.

HĐXX phúc thẩm thấy rằng: Trong vụ án này khi Toà án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án và đưa vụ án ra xét xử bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V có cung cấp cho Toà án cấp sơ thẩm một số tài liệu chứng cứ và cho rằng cần phải điều tra làm rõ vai trò của H2 – N trong vụ án và làm rõ việc ai đã nhận của bị hại số tiền 1,5 tỷ đồng.

Tại quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 55/2025/QĐ-HS ngày 26/5/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung để điều tra làm rõ:

  • - Vai trò, hành vi của anh Phạm Mạnh H2 và vợ là Hoàng Thị N có đồng phạm với bị cáo hay không?
  • - Xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt của ông D.
  • - Xác minh số tiền và cách thức chuyển từ ông D chuyển cho bị cáo, chị N chuyển cho bị cáo, chị Ngọc A1 chuyển cho chị N, số tiền liên quan để chuyển cho chị N giữa ông D và chị Ngọc A1.
  • - USB do chị V xuất trình có liên quan đến hành vi phạm tội hay không? Nếu có dấu hiệu phạm tội thì giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • - Nguốc gốc, chứng cứ số tiền anh Nguyễn Xuân B đã bồi thường cho bị hại D.

Tại quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 164/2025/QĐ-VKSHN–P2 ngày 09/6/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã trả hồ sơ vụ án Trần Đặng Anh T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố H để điều tra bổ sung theo quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quyết định số 55/2025/QĐ-HS ngày 26/5/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H đã ban hành bản kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số 1466/BKL-CSHS ngày 15/7/2025.

Tại yêu cầu điều tra số 1219/YC–VKSHN-P2 ngày 15/7/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã yêu cầu:

  • - Yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập toàn bộ chứng cứ từ chị Nguyễn Thị V liên quan đến vụ án nêu trên.
  • - Cơ Quan điều tra cử điều tra viên khác phúc tra lời khai của ông Lê Hiệp D, Nguyễn Xuân B và luật sư C về việc B thay T khắc phục số tiền 02 tỷ đồng.

Tại công văn số 15337/PC02- Đ5 ngày 19/8/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H về việc bổ sung tài liệu chứng cứ.

Tại Bản cáo trạng số 539/CT-VKSHN-P2 ngày 28/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Đặng Anh T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích nêu trên HĐXX phúc thẩm thấy rằng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Do vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bị hại Lê Hiệp D.

[2] Về tội danh và hình phạt

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo chỉ khai nhận 01 phần về hành vi phạm tội của mình là nhận của ông D 500.000.000 đồng nhưng căn cứ vào lời khai của bị hại, người làm chứng, lời khai của bị cáo tại phiên tòa về việc bị cáo có xác nhận với ông D qua điện thoại là bị cáo đã nhận từ chị N 1.500.000.000 đồng và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ căn cứ kết luận: Năm 2021, ông Lê Hiệp D có nhu cầu bán mảnh đất tại số D, ngõ I, đường V, phường X, quận T, thành phố Hà Nội (nay là phường N, thành phố Hà Nội). Lúc này, Trần Đặng Anh T đặt vấn đề với ông D là mua thêm căn nhà số D, ngõ I, đường V, phường X, quận T là thửa đất giáp ranh phía sau đất của ông D, hiện đang xây khách sạn S1, sau đó gộp chung vào diện tích đất của ông D, sẽ thuận tiện hơn trong việc mua bán. T nói dối đã làm việc với chủ sở hữu mảnh đất đang xây khách sạn này, là ông Nguyễn Mạnh T2 và ông T2 đồng ý bán với giá 57.000.000.000 đồng, yêu cầu cọc số tiền 5.700.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc là 10 ngày, nếu quá thời hạn 10 ngày sẽ bị mất tiền cọc. T sẽ đứng ra đàm phán, đảm bảo đặt cọc thay ông D và thực hiện các giao dịch để cùng mua chung mảnh đất trên, rồi gộp vào với đất của ông D để bán và sẽ lấy tiền của người mua để trả tiền cho ông T2. Số tiền lãi, cả hai thống nhất sẽ chia đôi. Ông D tin tưởng nên đồng ý để T đứng ra thực hiện các giao dịch trên. Ngày 20/3/2021, T nói với ông D do không tìm được người mua đất nên không có tiền để trả tiền mua cho ông T2 và phải chịu mất số tiền đã đặt cọc, nhưng T có tác động nên ông T2 bớt cho số tiền 1.700.000.000 đồng, còn lại phải chịu phạt cọc số tiền 4.000.000.000 đồng. T yêu cầu ông D phải chịu một nửa số tiền phạt cọc là 2.000.000.000 đồng và phải thanh toán ngay trong ngày 06/6/2021. Sau đó, theo yêu cầu của T, ông D đã đưa đủ 2.000.000.000 đồng cho T. Nhưng do nghi ngờ nên ông D đã kiểm tra lại và phát hiện T không hỏi mua nhà của ông T2, không đặt cọc và phải đền cọc cho ông T2 như T nói mà do T tự nghĩ ra việc đặt cọc để lừa lấy của ông D số tiền 2.000.000.000 đồng. Ông D đã đến Cơ quan điều tra tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Đặng Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như quy kết của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2, Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đặng Anh T 08 (tám) năm tù là phù hợp với tính chất hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[3] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Lê Hiệp D cho bị cáo. HĐXX phúc thẩm thấy rằng:

Xét thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự, khai nhận hành vi phạm tội của mình, toàn bộ thiệt hại đã được hoàn trả cho ông D; ông D đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông, bà được nhận huân chương kháng chiến là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Toà phúc thẩm bị hại tiếp tục kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo cũng đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo này của bị hại.

Để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu và đã nhận thức được hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, đồng thời có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Mặt khác toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt đã được hoàn trả cho bị hại.

Do đó HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại cho bị cáo. Tuy nhiên cũng cần cân nhắc giảm cho phù hợp.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên toà là có căn cứ chấp nhận.

Từ phân tích nêu trên: Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại đối với bị cáo.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định kháng của Bản án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b, đ khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn. giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Đặng Anh T.
  2. Chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê Hiệp D về việc xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Đặng Anh T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 707/2025/HS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Đặng Anh T như sau:
  3. Tuyên bố bị cáo Trần Đặng Anh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2, Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Đặng Anh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.

  4. Về án phí: Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của Bản án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo, bị hại, người bào chữa;;
  • - Lưu hồ sơ, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trọng Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 555/2025/HS-PT ngày 12/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 555/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt ts
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger