|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 555/2021/HNGĐ-ST Ngày: 15-7-2021 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đông Thiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy
- 2. Ông Trần Ngọc Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định: Ông Phạm Ngọc Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số 138/2021/TLST-HNGĐ ngày 09.3.2021 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2021/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị T - SN: 1997
Địa chỉ: xóm 3, thôn L, xã P, thành phố Q, tỉnh Bình Định
Bị đơn: Anh Trần Thanh P - SN: 1993
Địa chỉ: xóm 4, thôn T, xã P, thành phố Q, tỉnh Bình Định
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24.02.2021 và các lời khai tiếp theo tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh P tự nguyện tìm hiểu, thời gian khoảng 1 năm, sau đó đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố Q, tỉnh Bình Định vào ngày 06.10.2015. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh P thường xuyên cờ bạc bỏ bê vợ con, có người phụ nữ khác bên ngoài, chị bỏ về nhà mẹ ruột từ tháng 2.2021 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung nặng nề, chị xin ly hôn anh P.
+ Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 1 con chung cháu Trần Nhật N sinh ngày 23.10.2015, sức khỏe cháu bình thường; ly hôn chị T xin nuôi cháu N; không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
+ Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Thanh P: không đến Tòa làm việc, Tòa đã tiến hành lấy lời khai không được, xác minh tại địa phương, tống đạt hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến đại diện VKSND thành phố Q tham dự phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên Tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị T về việc xin ly hôn anh Trần Thanh P; về nuôi dưỡng con chung; về tài sản chung; án phí chị T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T xin ly hôn anh P, còn anh P không đến Tòa làm việc trong quá trình giải quyết vụ án; Tòa án nhân dân thành phố Q đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần gửi giấy báo triệu tập, lấy lời khai không được của anh P, xác minh tại địa phương và thông báo về phiên hòa giải, phiên xét xử cho anh P nhưng anh P đều không đến Tòa làm việc. Đây là trường hợp bị đơn cố tình lẩn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa vẫn đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tòa xét: Chị T và anh P kết hôn tại UBND xã P, thành phố Q, tỉnh Bình Định vào ngày 06.10.2015. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường nhưng sau nhiều năm chung sống giữa hai anh chị bộc lộ nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh P thường xuyên cờ bạc bỏ bê vợ con, có người phụ nữ khác bên ngoài. Là vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tin tưởng, gần gũi, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, nhưng ở đây anh P cờ bạc, không chung thủy tình cảm vợ chồng tạo nên cuộc sống chung nặng nề; chị T bỏ về nhà mẹ ruột từ tháng 2.2021 cho đến nay nhưng anh P không quan tâm, không thăm hỏi hay níu kéo tình cảm vợ chồng. Mặt khác, anh P không đến Tòa hòa giải, điều đó chứng tỏ anh P không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy nghĩa vụ giữa vợ chồng anh chị đã vi phạm nghiêm trọng làm cho hôn nhân không đạt được, chị T xin ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 1 con chung, cháu Trần Nhật N sinh ngày 23.10.2015, sức khỏe cháu bình thường; ly hôn chị T xin nuôi cháu N.
Xét thấy:
Lâu nay chị T vẫn trực tiếp nuôi dưỡng cháu N nên để bảo đảm cuộc sống, học tập cũng như ổn định về mặt tâm sinh lý cho cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nên Tòa không xem xét giải quyết.
[4] Về quan hệ tài sản chung: Chị T không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T ly hôn anh Trần Thanh P.
- Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị T và anh Trần Thanh P có 1 con chung cháu Trần Nhật N sinh ngày 23.10.2015, sức khỏe cháu bình thường;
- - Về nuôi con: Chị Lê Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Trần Nhật N sinh ngày 23.10.2015;
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Thanh P.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu, Tòa không giải quyết.
- Về án phí HNGĐ-ST: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003512 ngày 09.3.2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q. Chị T đã nộp đủ án phí HNGĐ-ST.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; riêng các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại ủy ban nhân dân phường sở tại.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Các đương sự. - VKSND Tp. Q - Lưu HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Đông Thiên |
Bản án số 555/2021/HNGĐ-ST ngày 15/07/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 555/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
