Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 554/2024/HS-ST

Ngày: 11-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Tam;
  2. Ông Nguyễn Phi Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường số 7 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 543/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 551/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Hà Minh H. Tên gọi khác: Hiếu Long S. Giới tính: Nam. Sinh năm 1973 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: K, tổ F, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 6/12 - Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Họ tên cha: Hà Ngọc L, sinh năm 1953 (đã chết). Họ tên mẹ: Trương Ngọc D – sinh năm 1953 (còn sống). Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Họ tên vợ: Bùi Ngọc Y, sinh năm 1972. Bị cáo có 02 người con sinh năm 1995 và năm 1997

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 20/4/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

2. Trương Ngọc X. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Sinh năm 2003 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: A3/212, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở: K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 6/12 - Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Họ tên cha: Trương Ngọc S1 – sinh năm 1981 (còn sống). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B – sinh năm 1982 (còn sống). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có chồng, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 20/4/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Đ.

3. Nguyễn Bá L1. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm 1998 tại Bình Dương. Nơi cư trú: C, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 8/12 - Nghề nghiệp: Lái xe môtô chở khách. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Họ tên cha: Nguyễn Văn B1 – sinh năm 1963 (còn sống). Họ tên mẹ: Đinh Thị Huệ H1, sinh năm 1964 (còn sống). Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 20/4/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

4. Lê Văn P. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 20/9/2006 tại Hậu Giang. Nơi đăng ký thường trú: Áp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Nơi ở hiện nay: K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 7/12 - Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Họ tên cha: Không rõ. Họ tên mẹ: Lê Cẩm T – sinh năm 1986 (còn sống).

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 2004 (không đăng ký kết hôn) và có 01 người con sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 20/4/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung vụ án:

Hà Minh H, Nguyễn Bá L1, Trương Ngọc X và Lê Văn P quen biết nhau và đều là những người sử dụng trái phép chất ma tuý.

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/4/2024, do L1 làm nghề chạy xe mô tô chở khách thuê (xe ôm công nghệ) nên H gọi điện thoại cho L1 đến chở H đi công việc. Khi đến nơi, H rủ L1 chở H đi mua ma tuý về cùng sử dụng, L1 đồng ý. Sau đó, L1 điều khiển xe máy điện hiệu Vinfast màu xanh, biển số 29C2-066.42 (xe thuộc sở hữu của Công ty cổ phần D1 và thông minh GSM) chở H đi đến khu vực chợ D2, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, H xuống xe đi bộ vào hẻm cách khoảng 100 mét gặp đối tượng tên N (chưa rõ lai lịch) mua 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) về sử dụng.

Sau khi mua được ma tuý, L1 chở H về đến khu vực cổng sau Công ty P1 thì gặp P và X. H hỏi X mượn bộ sử dụng cụ để sử dụng ma tuý. Lúc này, X rủ H và L1 về nhà P tại số K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để sử dụng ma tuý, H và L1 đồng ý. Sau đó, L1 điều khiển xe 29C2-066.42 chở H và P về nhà của P trước rồi L1 quay lại chở X. Khi L1, H, X và P về đến nhà của P, P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (nỏ) (của X) và bật lửa (hộp quẹt) gas ra để dưới nền trong phòng bếp. H lấy gói ma tuý (đá) vừa mua đổ hết vào “nỏ” rồi nấu lên cho cả nhóm cùng sử dụng. Cùng lúc này, Phạm Minh C (bạn P- sinh năm 1996, trú tại ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai) đến nhà P chơi thì P rủ C cùng sử dụng ma tuý, C đồng ý. Cả nhóm sử dụng ma tuý được một lúc thì hết gas nên L1 chở X đi đổi bình gas mini và sau đó cả hai tiếp tục về sử dụng ma tuý cùng với P, H và C.

Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, khi P, H, L1, X và C đang sử dụng ma tuý trong phòng bếp tại nhà của P ở địa chỉ nêu trên thì bị Công an phường B kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Hà Minh H, Nguyễn Bá L1, Trương Ngọc X và Lê Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

(Biên bản phạm tội quả tang bút lục số: 01-02;

Lời khai, biên bản hỏi cung bị can bút lục số: 89-99; 115-125; 132-144; 154-165)

Lời khai người làm chứng bút lục số: 169-174)

2. Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) gói nilon bên trong chứa chất màu trắng (Hà Minh H, Nguyễn Bá L1, Trương Ngọc X và Lê Văn P khai là ma tuý tổng hợp -hàng đá) đã được niêm phong có chữ ký của H, L1, X và P và dấu mộc của Công an phường B, thành phố B.

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: 01 bình nước bằng nhựa, 01 ống thuỷ tinh đã bị vỡ, 01 ống hút nhựa, 01 mảnh vỡ thuỷ tinh chứa chất màu trắng bị vỡ ra từ nỏ thuỷ tinh, 01 dụng cụ khò lửa cầm tay, 01 bình gas mini, 01 bật lửa (hộp quẹt) gas màu xanh và 01 bật lửa bằng gas tự chế có ống dẫn gas (cấu tạo như 01 cái khò gas).

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi by Xiaomi, màu xanh, Model: M1810F6LG của Nguyễn Bá L1 không liên quan đến hành vi phạm tội.

- 01 điện thoại di động hiệu N1 màu đỏ số Serial: 352891101622831 của Hà Minh H không liên quan đến hành vi phạm tội.

(Bút lục số: 01-04)

* Đối với 01 xe máy điện biển số 29C2-066.42 thuộc sở hữu của Công ty cổ phần D1 và thông minh GSM do ông Nguyễn Văn T1 làm Tổng giám đốc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xe mô tô trên cho chủ sở hữu.

(Bút lục số 180-196).

3. Kết luận giám định:

Tại kết luận giám định số 858/KLGĐ-PC09 ngày 26/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng 0,017 gam loại Methamphetamine.

Mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định.

(Bút lục số: 19)

* Tại Kết luận giám định số 0915/KLGĐĐT-TTPYĐN ngày 06/9/2024 kết luận Lê Văn P có độ tuổi là 18 năm đến 19 năm kể từ ngày giám định 30/8/2024. – (Bút lục số: 107)

4. Các vấn đề khác:

Quá trình điều tra, Hà Minh H, Nguyễn Bá L1, Trương Ngọc X và Lê Văn P và Phạm Minh Công K: C không bàn bạc, không góp tiền để sử dụng ma tuý nên không xem xét xử lý đối với C về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngoài ra, C còn khai: Khoảng 3 tuần trước (không rõ thời gian), C có sử dụng ma tuý cùng với P và X tại nhà của P. Tuy nhiên, P và X không thừa nhận, ngoài lời khai của C thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có cơ sở xử lý P và X về tình tiết “Phạm tội 2 lần trở lên”.

(Bút lục số: 125, 144, 173)

Đối với Phạm Văn C1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an phường B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với đối tượng tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Hà Minh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

5. Truy tố của Viện kiểm sát:

- Bản cáo trạng số: 541/CT-VKSBH-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Hà Minh H, Trương Ngọc X, Nguyễn Bá L1 và Lê Văn P, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Minh H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù;
  • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Ngọc X từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;
  • + Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L1 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn P mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Xử lý vật chứng và buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.

6. Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày:

các bị cáo thống nhất với hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì đối với kết luận giám định.

7. Các bị cáo nói lời sau cùng:

Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản kiểm tra hành chính và thu giữ tang vật, kết quả test ma túy

của các bị cáo, Bản kết luận giám định, lời khai của các bị cáo, biên bản đối chất, lời khai của người làm chứng. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Từ 21 giờ 30 phút đến 23 giờ 50 phút ngày 20/4/2024, tại nhà số K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Lê Văn P thuê trọ, các bị cáo Lê Văn P, Trương Ngọc X, Hà Minh H và Nguyễn Bá L1 có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức cho Phạm Minh C sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Công an phường B kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số 858/KLGĐ-PC09 ngày 26/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng 0,017 gam loại Methamphetamine.

Như vậy, các bị cáo đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục các chất cấm theo quy định của Chính phủ. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lê Văn P phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Do đó, hành vi của các bị cáo Hà Minh H, Nguyễn Bá L1, Trương Ngọc X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); hành vi của bị cáo Lê Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.

Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, tuy nhiên mỗi bị cáo đóng vai trò khác nhau:

  • + Hà Minh H là người đã rủ L1 đi mua ma tuý về để sử dụng. Đồng thời, H là người cung cấp ma tuý, nấu ma túy cho L1, H, P, X và C cùng sử dụng.
  • + Lê Văn P là người cung cấp địa điểm và các dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng ma túy gồm 02 hộp quẹt ga, 01 bình ga mini, 01 dụng cụ khò ga để cho L1, H, P, X và C sử dụng ma tuý.
  • + Nguyễn Bá L1 là người chở H đi mua ma tuý; chở H, P, X đi đến địa điểm sử dụng ma tuý. Khi đang sử dụng ma tuý thì hết gas, L1 là người chở X đi đổi gas về tiếp tục sử dụng ma tuý.
  • + Trương Ngọc X là người đã rủ H và L1 về nhà của P để sử dụng ma túy, X là người đã cung cấp dụng cụ “nỏ” để X, H, P, L1, C sử dụng ma tuý.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
  • + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, trị an và an ninh xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đồng thời, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, vai trò của các bị cáo để quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị cáo Lê Văn P tại thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

[3] Về các vấn đề khác:

  • - Đối với Phạm Văn C1 không có hành vi hay hành động nào khác giúp sức cho P, H, L1, X trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, C1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ về “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình”, Công an phường B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
  • - Đối với đối tượng tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Hà Minh H ở khu vực chợ D2, thuộc thành phố D, tỉnh Bình Dương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã có văn bản thông báo đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương để tiến hành điều tra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong số 858 ngày 26/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và 01 bình nước bằng nhựa, 01 ống thuỷ tinh đã bị vỡ, 01 ống hút nhựa, 01 mảnh vỡ thuỷ tinh chứa chất màu trắng bị vỡ ra từ nỏ thuỷ tinh, 01 dụng cụ khò lửa cầm tay, 01 bình gas mini, 01 bật lửa (hộp quẹt) gas màu xanh và 01 bật lửa bằng gas tự chế có ống dẫn gas (cấu tạo như 01 cái khò gas) dùng để sử dụng ma tuý.
  • - Trả lại cho Nguyễn Bá L1 01 điện thoại di động hiệu Redmi by Xiaomi, màu xanh, Model: M1810F6LG do không liên quan đến vụ án.
  • - Trả lại cho Hà Minh H 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ, số Serial: 352891101622831 do không liên quan đến vụ án.

(Tất cả các vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

[5] Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Hà Minh H, Nguyễn Bá L1, Trương Ngọc X;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Văn P;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Hà Minh H, Nguyễn Bá L1, Trương Ngọc X và Lê Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • - Xử phạt Hà Minh H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt quả tang 20-4-2024.
  • - Xử phạt Nguyễn Bá L1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt quả tang 20-4-2024.
  • - Xử phạt Trương Ngọc X 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt quả tang 20-4-2024.
  • - Xử phạt Lê Văn P 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt quả tang 20-4-2024.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong số 858 ngày 26/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và 01 bình nước bằng nhựa, 01 ống thuỷ tinh đã bị vỡ, 01 ống hút nhựa, 01 mảnh vỡ thuỷ tinh chứa chất màu trắng bị vỡ ra từ nỏ thuỷ tinh, 01 dụng cụ khò lửa cầm tay, 01 bình gas mini, 01 bật lửa (hộp quẹt) gas màu xanh và 01 bật lửa bằng gas tự chế có ống dẫn gas (cấu tạo như 01 cái khò gas) dùng để sử dụng ma tuý.
  • - Trả lại cho Nguyễn Bá L1 01 điện thoại di động hiệu Redmi by Xiaomi, màu xanh, Model: M1810F6LG do không liên quan đến vụ án.
  • - Trả lại cho Hà Minh H 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ, số Serial: 352891101622831 do không liên quan đến vụ án.

(Tất cả các vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Hà Minh H, Nguyễn Bá L1, Trương Ngọc X và Lê Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí.

4. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy
  • Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự – Công an thành
  • phố Biên Hòa;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên
  • Hòa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 554/2024/HS-ST ngày 11/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 554/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Minh hiếu + đồng phạm Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (khoản 2 điều 255)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger