|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 554/2024/DS-PT Ngày 16 - 9 - 2024 “V/v Tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tặng.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Ông Lê Thành Tôn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Quí, Kiểm sát viên.
Trong ngày 19, 27/ 8/2024 và ngày 16/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 357/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024, “V/v tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 474/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 624/TB-TA, ngày 22/8/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị T, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Tạm trú: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2 Bị đơn:
2.1 Bà Võ Thị T1, sinh năm 1969.
2.2 Ông Lương Văn Bé M, sinh năm 1967.
Người đại diện hợp pháp của ông M và bà T1: Chị Lương Thị Trúc Q, sinh năm 1996. Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 13/8/3024.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
* Người kháng cáo: Ông Lương Văn Bé M, bà Võ Thị T1 là bị đơn.
Bà T, chị T2 có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Cao Thị T trình bày:
Bà T có cho bà T1 vay nhiều lần cụ thể như sau:
- Ngày 02/11/2023, cho bà T1 vay số tiền 10.000.000 đồng để đóng lãi ngân hàng, nhưng khi viết biên nhận thì ghi mượn, lãi suất thỏa thuận miệng mỗi ngày đóng lãi 20.000 đồng.
- Ngày 14/11/2023, vợ chồng bà T1 hỏi vay thêm số tiền 200.000.000 đồng, để trả nợ ngân hàng. Khi trả nợ xong sẽ vay lại và trả cho bà T số tiền 210.000.000 đồng và lãi suất tiền ngày theo thỏa thuận. Khoảng 20 ngày sau, bà T đến nhà gặp vợ chồng bà T1 để yêu cầu trả số tiền trên. Nhưng vợ chồng bà T1 hứa lần lượt mà không trả vốn và lãi.
Nay bà T yêu cầu bà T1, ông M trả số tiền vay 210.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 14/11/2023 với lãi suất 0,83% / tháng.
* Bị đơn bà Võ Thị T1 trình bày:
Bà T1 thừa nhận có vay số tiền của bà T số tiền 210.000.000 đồng. Bà T1 xin trả dần vì đã lớn tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Việc bà T1 vay tiền của bà T thì ông M không biết.
Nay bà T1 đồng ý trả cho bà T số tiền 203.500.000 đồng, vì bà T1 trả được cho bà T số tiền 6.500.000 đồng (không nhớ ngày tháng).
* Bị đơn ông Lương Văn Bé M trình bày:
Ông M thừa nhận chữ ký và chữ viết trong biên nhận ngày 14/11/2023 là đúng chữ ký và chữ viết của ông. Nhưng ông M không có lấy tiền của bà T, không biết việc vay mượn. Do đó, ông M không đồng ý cùng bà T1 liên đới trả số tiền 210.000.000 đồng.
Đối với biên nhận ngày 14/11/2023 là không đúng. Ông M thừa nhận chữ ký và chữ viết là đúng của ông M. Nhưng ông M nhớ là mượn số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và bà T sửa chữa lại thành 200.000.000 đồng và sửa chữa lại năm 2022 thành năm 2023.
- Tại Bản án sơ thẩm số 77/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T.
Buộc bà Võ Thị T1, ông Lương Văn Bé M trả số tiền vay còn nợ vốn 210.000.000 đồng và lãi suất 6.972.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo và thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 tháng 6 năm 2024, Ông Lương Văn Bé M và bà Võ Thị T1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 77/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Hủy biên nhận ngày 14/11/2023, do biên nhận ngày 14/11/2023 đã có sự sửa chữa từ năm 2022 sang năm 2023 và phần chữ viết “200 triệu” không phải chữ viết của bà Võ Thị T1.
- Bà Võ Thị T1, ông Lương Văn Bé M đồng ý trả cho bà Cao Thị T số tiền: 48.500.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/8/2023, người đại diện hợp pháp của ông M, bà T1 xác định kháng cáo như sau: Bà Võ Thị T1 không đồng ý trả cho bà T 210.000.000 đồng. Ông M không đồng ý liên đới cùng bà T1 trả cho bà T 210.000.000 đồng. Bà T1 và ông M có yêu cầu giám định biên nhận ngày 14/11/2023. Bà Võ Thị T1, đồng ý trả cho bà Cao Thị T số tiền 53.500.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 16/9/2024, người đại diện hợp pháp của bà T1, ông M không yêu cầu giám định biên nhận ngày 14/11/2023.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh, phát biểu việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành tốt quy định của pháp luật và đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị T1, ông Lương Văn Bé M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý xét xử vụ án, tranh chấp hợp đồng vay tài sản là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà T1, ông M kháng cáo còn trong thời hạn luật định. Căn cứ vào Điều 270, 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo qui định.
- Theo bà T có cho bà T1 vay nhiều lần, đến ngày 14/11/2023 âl, bà T1 có viết biên nhận cộng chung các lần vay số tiền 200.000.000 đồng, biên nhận ngày 14/11/2023 có ông Lương Văn M là chồng ký tên.
Bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 và ông M trả tiền nợ vay của biên nhận ngày 02/11/2023 số tiền 10.000.000 đồng và biên nhận ngày 14/11/2023 số tiền là 200.000.000 đồng, tổng cộng 210.000.000 đồng.
- Bà T1 thừa nhận chữ “Thắm” của biên nhận ngày 02/11/2023 là của bà T1. Đối với biên nhận ngày 14/11/2023 bà T1 không thừa nhận chữ “T1” là của bà T1. Tuy nhiên, bà T1 thừa nhận có vay của bà T nhiều lần hiện còn nợ số tiền 210.000.000 đồng, nhưng bà T1 cho rằng vay dùm cho chị Mai Thị Ngọc X và anh Phan Văn N số tiền 155.000.000 đồng, nên bà T1 chỉ đồng ý trả cho bà T số tiền 48.500.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T1 đồng ý trả cho bà T 53.500.000 đồng.
- Xét kháng cáo của bà Võ Thị T1, không đồng ý trả cho bà T 210.000.000 đồng.
- Xét thấy, mặc dù bà T1 không thừa nhận chữ “Thắm” của biên nhận ngày 14/11/2023 là của bà T1. Tuy nhiên, theo biên bản ghi lời khai ngày 21/3/2024, biên bản phiên tòa ngày 30/5/2024, bà T1 thừa nhận có vay của bà T nhiều lần số tiền 210.000.000 đồng. Đối với việc bà T1 cho rằng số tiền 210.000.000 đồng thì bà T1 vay dùm cho anh N và chị X số tiền 155.000.000 đồng. Anh N cũng có xác nhận ngày 30/10/2023, thừa nhận có nhờ bà T1 vay 155.000.000 đồng của bà T. Bà T không thừa nhận có cho anh N vay. Về số tiền vay 155.000.000 đồng, do anh N và chị X không trả cho bà T1, nên bà T1 khởi kiện anh N và chị X. Ngày 13/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa bà T1 với anh N, chị X. Anh N và chị X đồng ý trả cho bà T1 số tiền vay 155.000.000 đồng. Điều đó chứng tỏ bà T có cho bà T1 vay 210.000.000 đồng, nên việc bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 trả 210.000.000 đồng là có cơ sở.
- Xét kháng cáo của ông Lương Văn Bé M không đồng ý liên đới cùng bà T1 trả cho bà T số tiền 210.000.000 đồng.
- Xét thấy, ông M cho rằng ông M không có vay tiền của bà T, cũng không nhận tiền của bà T, nhưng ông M thừa nhận chữ ký tên và chữ viết họ tên Lương Văn Bé M của biên nhận ngày 14/11/2023 là của ông M viết và ký tên. Tuy nhiên, tại biên bản hòa giải ngày 04/5/2024 ông M trình bày: Đối với biên nhận ngày 14/11/2023 là không đúng. Ông M thừa nhận chữ ký và chữ viết là đúng của ông M, nhưng ông M nhớ là mượn số tiền 2.000.000 đồng và bà T sửa lại thành 200.000.000 đồng và sửa lại năm 2022 thành năm 2023. Như vậy, chứng tỏ ông M có cùng bà T1 vay tiền của bà T.
- Mặt khác, ông M và bà T1 hiện là vợ chồng. Tại phiên tòa sơ thẩm bà T1 trình bày vay tiền cho vay lại cũng nhằm tạo thu nhập lo cho gia đình. Vì thế, án sơ thẩm xử buộc ông M liên đới cùng bà T1 trả cho bà T số tiền 210.000.000 đồng là có cơ sở.
- Xét kháng cáo của bà T1 và ông M yêu cầu giám định biên nhận ngày 14/11/2022 được sửa thành năm 2023 và phần chữ viết “200.000 triệu” không phải chữ viết của bà Võ Thị T1. Xét thấy, mặc dù biên nhận ngày 14/11/2023 thì số 3 của năm 2023 có sửa chữa và con số “2.000.000” được gạch ngang viết thành “200.000 triệu”, nhưng tại biên bản ghi lời khai ngày 21/3/2024, biên bản hòa giải ngày 04/5/2024, biên bản phiên tòa ngày 30/5/2024, bà T1 thừa nhận có vay của bà T nhiều lần số tiền 210.000.000 đồng. Bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 trả vốn 210.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T xác định ngoài số tiền 210.000.000 đồng thì bà T1, ông M không còn vay khoảng tiền nào khác của bà T.
- Như vậy, giữa bà T và bà T1 thống nhất với nhau là bà T1 có vay của bà T 210.000.000 đồng. Vì thế, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải giám định biên nhận ngày 14/11/2023, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu giám định của bà T1 và ông M. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 16/9/2024, người đại diện hợp pháp của bà T1, ông M không yêu cầu giám định biên nhận ngày 14/11/2023.
- Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là không chấp nhận kháng cáo của bà T1 và ông M là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của và Võ Thị T1 và ông Lương Văn Bé M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Do kháng cáo của bà T1, ông M không được chấp nhận, nên bà T1 và ông M phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 308; khoản 1, Điều 148, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị T1, ông Lương Văn Bé M.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T.
Buộc bà Võ Thị T1, ông Lương Văn Bé M liên đới trả số tiền vay còn nợ vốn 210.000.000 đồng và lãi suất 6.972.000 đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí:
2.1 Bà Cao Thị T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 5.250.000 đồng theo biên lai thu số 0005304, ngày 16/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
2.2 Bà Võ Thị T1, ông Lương Văn Bé M liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.848.000 (Mười triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn đồng) đồng và bà T1, ông M mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông M và bà T1 đã nộp 600.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0010786 và số 0010787 cùng ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, được trừ vào tiền án phí. Ông M và bà T1 còn phải nộp 10.848.000 đồng tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Tấn Tặng |
Bản án số 554/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 554/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
