|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 554/2024/HS-PT Ngày: 15/7/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Ong Thân Thắng;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội: Ông Phạm Đức Thắng-Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 1571/2023/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 518/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1946, tại Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Số nhà A, đường Q, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số nhà E, phố Đ, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông: Nguyễn Đỗ N (đã chết); Con bà: Vũ Thị K (đã chết); Chồng: Lê Trọng H; Con: Có 02 con; lớn sinh năm 1972, nhỏ sinh năm 1978; Tiền án, tiền sự: Không; vắng mặt.
Nhân thân: Bản án số 353/2008/HSST ngày 22/10/2007 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử bị cáo L 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng.
Người bào chữa cho bị cáo:
- Luật sư Bùi Văn T- Văn phòng L4, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
- Luật sư Hàn Lê H1- Văn phòng L5, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Hồng L1, sinh năm 1982; trú tại số nhà B, phố G, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Hùng C, sinh năm 1974; trú tại tổ C, khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975; trú tại phòng 703, chung cư G X,
1
phường X, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- Bà Phạm Bích H2, sinh năm 1969; trú tại số nhà H, ngách A, đường N, phường H, quận T, Hà Nội, vắng mặt.
- Anh Lại Đức Q, sinh năm 1983; trú tại số nhà C, ngõ A, phố K, phường K, quận Đ, Hà Nội, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2019, thông qua giới thiệu của chị Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1975; trú tại phòng 703, chung cư G X, phường X, quận B, thành phố Hà Nội) Nguyễn Thị L (sinh năm 1946; trú tại số nhà E, phố Đ, phường Q, quận B, Hà Nội) quen biết với chị Nguyễn Hồng L1 (sinh năm 1982; trú tại số nhà B, phố G, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh). Thời gian sau đó, chị L1 và chị T1 nhiều lần đến nhà L chơi. Quá trình quen biết, L giới thiệu với chị L1 là có quan hệ với nhiều người có chức vụ trong ngành Công an, có thể xin chuyển công tác cho cán Bộ Công an địa phương về làm Thư ký cho lãnh đạo Bộ C1.
Chị Nguyễn Hồng L1 có anh họ là Nguyễn Hùng C (sinh năm 1974; trú tại tổ C, khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) đang công tác tại Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, sống xa nhà, đi lại vất vả. Do tin tưởng Nguyễn Thị L, chị L1 đã nhờ L xin chuyển công tác cho anh C từ Công an thị xã Q về công tác tại Bộ C1. L nói nếu muốn xin làm thư ký cho lãnh đạo Bộ C1 thì trước mắt phải xin về công tác tại Văn phòng Bộ C1 trước và nói phải chi phí số tiền 2.000.000.000 đồng, trong thời hạn 03 tháng sẽ xong việc, nếu không xin chuyển công tác được cho anh C thì sẽ trả lại tiền. Tin lời L là thật nên chị L1 đồng ý bảo anh C làm hồ sơ xin chuyển công tác đưa cho chị L1. Sau đó, chị L1 mang bộ hồ sơ trên đến nhà riêng của L ở số E, phố Đ, phường Q, quận B. Lan nhận hồ sơ của anh C xong đã đưa cho bà Phạm Bích H2 (sinh năm 1969; trú tại số nhà H, ngách A, đường N, phường H, quận T, Hà Nội) để nhờ bà H2 xin chuyển công tác cho anh C từ Công an thị xã Q về Bộ C1.
Khi Nguyễn Thị L yêu cầu chuyển tiền lo xin việc cho anh Nguyễn Hùng C thì chị Nguyễn Hồng L1 nói sẽ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của L nhưng L không đồng ý. Do đó, chị L1 và L thống nhất sẽ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của chị T1, để chị T1 rút ra đưa lại cho L. Khoảng 16 giờ ngày 04/6/2020, chị L1 đã chuyển số tiền 2.000.000.000 đồng vào tài khoản số [...] của chị T1 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C2 (V) và nhờ chị T1 chuyển trực tiếp số tiền trên cho L với nội dung giao dịch chuyển khoản là: “Chuyển tiền bà L Hà Nội xử lý công việc”. Cùng ngày, chị T1 đã cùng với anh Lại Đức Q (sinh năm 1983; trú tại số nhà C, ngõ A, phố K, phường K, quận Đ, Hà Nội; là bạn của chị T1) điều khiển xe ô tô chở chị T1 và L đến Ngân hàng V1 tại số C, đường C, phường C, quận H, Hà Nội để rút tiền.
2
Khi đến nơi, anh Q và chị T1 nói với L cùng đi vào để rút tiền nhưng L nói mệt nên đợi ở ngoài xe ô tô. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, anh Q và chị T1 cùng đi vào Ngân hàng để chị T1 làm thủ tục rút số tiền 2.000.000.000 đồng rồi mang ra xe ô tô đưa cho L. Sau đó, anh Q điều khiển xe ô tô chở chị T1 cùng đưa L về, trên xe ô tô L nhờ chị T1 chuyển số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng S mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N3 của chị Vũ Thị H3 (sinh năm 1972; trú tại đường T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương). Trên đường về nhà, L nhờ anh Q đưa L về Ngân hàng B - Phòng G tại số A, đường Q, phường Q, quận B, Hà Nội để L gửi tiền. Đến nơi, anh Q xuống xe đưa L tự xách túi tiền vào Ngân hàng. L bảo anh Q và chị T1 đi về nhà L tại số E, phố Đ, phường T, B, Hà Nội đợi.
Khoảng 16 giờ 35 phút cùng ngày, L làm thủ tục gửi tiết kiệm số tiền 1.700.000.000 đồng tại Ngân hàng B - Phòng G1 Quá trình chị T1 đưa L đi rút tiền và giao tiền cho L, thì chị T1 có quay video và chụp hình lúc L ngồi trên xe ô tô nhận số tiền gửi cho chị L1 qua zalo, do chị L1 không lưu video ghi lại việc chị T1 giao tiền cho L nên hiện không còn.
Sau khi nhận tiền, L hẹn chị L1 và anh C (chị L1 không nhớ ngày tháng cụ thể) đến cổng trụ sở Bộ C1 tại số D, đường P, quận B, Hà Nội. Tại đây, L cùng chị L1 và anh C gặp bà Phạm Bích H2, là người L đã đưa hồ sơ của anh C để nhờ xin chuyển công tác. Sau đó, tất cả cùng ra xe ô tô của L đến nhà gặp bà H2. Trên đường đi, L giới thiệu bà H2 là người sẽ giải quyết công việc cho anh C; L dặn hai người nếu bà H2 có hỏi gì về vấn đề tiền xin chuyển công tác thì không nói việc L1 đưa 2.000.000.000 đồng cho L. Khi đến nhà bà H2 thì L lấy lý do bận việc và đi về trước, còn chị L1 và anh C được bà H2 đưa vào nhà chơi, chị L1 có nói chuyện với bà H2 về việc nhờ L xin chuyển công tác cho anh C. Đúng hẹn 03 tháng sau, không thấy anh C được chuyển công tác như L hứa hẹn nên chị L1 và chị T1 nhiều lần đến nhà L yêu cầu L thực hiện lời hứa hoặc trả lại 2.000.000.000 đồng cho chị L1. Thời gian đầu, L hứa sẽ trả lại số tiền trên trong thời gian 02 tháng, nhưng sau đó L nại ra nhiều lý do khác nhau và không trả lại tiền cho chị L1.
Do anh C không được chuyển công tác như L đã hứa hẹn và L không trả lại tiền, nên ngày 05/02/2021, chị L1 gửi đơn tố cáo hành vi trên của L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ C1.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và các đồ vật liên quan gồm:
* Vật chứng do người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng giao nộp:
- 03 USB có các file ghi âm hội thoại giữa Nguyễn Thị L với bà H2, anh Q và chị T1 (Do bà Phạm Bích H2 cùng anh Lại Đức Q và chị Nguyễn Thị T1 đã tự nguyện giao nộp ngày 03/3/2021).
- 03 đĩa CD có các file ghi âm hội thoại giữa chị L1 và Nguyễn Thị L (do chị Nguyễn Hồng L1 giao nộp ngày 26/12/2021).
3
- 01 bộ hồ sơ gồm các văn bằng chứng chỉ, trong đó có đơn xin chuyển công tác của anh Nguyễn Hùng C, công tác tại Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đến đơn vị mới Văn phòng Bộ C1 (do bà Phạm Bích H2 giao nộp).
* Thu giữ của bị can Nguyễn Thị L:
- 02 điện thoại di động hiệu iphone đã qua sử dụng;
- 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CO097882 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 19/10/2018; thửa đất số 365, tờ bản đồ số 11, diện tích 468,8m2 tại phố V, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, thửa đất mang tên Nguyễn Thị L (sinh năm 1946; trú tại số nhà A, phố Q, quận B, thành phố Hà Nội);
- 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP182987 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 20/9/2018 (phô tô), thửa đất số 398, tờ bản đồ số 11, diện tích 91,1m2 tại phố B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, thửa đất mang tên Nguyễn Thị L (sinh năm 1946, trú tại A Quán T, quận B, thành phố Hà Nội);
- 01 bản gốc Giấy giao nhận tiền chuyển nhượng nhà đất ngày 08/3/2018 giữa bà Nguyễn Thị L và ông Đỗ Việt D;
- 01 hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 21/3/2021 giữa bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị L2;
- 01 bản chính Sơ yếu lý lịch tự thuật của anh Nguyễn Quang T2 sinh ngày 28/10/1981, trú tại số C, tổ D, phường Đ, quận H, Hà Nội; kèm theo bản sao căn cước công dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu của anh Nguyễn Quang T2;
- 01 bản chính viết tay lý lịch trích ngang của anh Hoàng N1, sinh ngày 02/01/1995, công tác tại Phòng hậu cần Công an tỉnh Q kèm theo bản phô tô lý lịch tự khai của anh Hoàng N1;
- 01 bản chính Sơ yếu lý lịch tự thuật của anh Lưu Bách T3, sinh ngày 16/7/1990, trú tại tổ E, Bằng B, phường H, quận H, Hà Nội, kèm theo bản sao giấy phép lái xe, chứng minh nhân dân đứng tên Lưu Bách T3;
- 01 bản phô tô gồm 02 tờ tóm tắt lý lịch của Nguyễn Quang H4, sinh ngày 04/11/1981, trú tại xóm F, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội công tác tại Công an quận L, thành phố Hà Nội.
Ngày 12/4/2021, ngày 21/5/2021 và ngày 30/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ C1 ra các Quyết định số 38, 04, 13 trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C1 giám định các file ghi âm đã thu giữ trong vụ án có bị cắt ghép không? Yêu cầu trích dịch các file ghi âm thành văn bản và so sánh giọng nói trong các file ghi âm với các mẫu giọng nói đã thu giữ của bà Phạm Bích H2, anh Lại Đức Q, chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Hồng L1 và Nguyễn Thị L.
Tại các bản Kết luận giám định số 1772 ngày 12/4/2021; số 3935 ngày 20/8/2021 và số 15/C09-P6 ngày 17/01/2022 của V2 Bộ C1 kết luận:
- Các file ghi âm mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 yêu cầu giám định không bị cắt ghép nội dung và đã trích dịch ra thành văn bản; Có tiếng nói của bà Nguyễn Thị L trong mẫu cần giám định (ký hiệu “Lan” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định);
4
- Có tiếng nói của bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Bích H2, ông Lại Đức Q trong mẫu cần giám định (ký hiệu lần lượt: “Giọng nữ 1”, “Giọng nữ 3”, “Giọng nam” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định kèm theo Kết luận giám định số 3935/C09-P6 ngày 20/8/2021 của V2 Bộ C1);
- Có tiếng nói của bà Nguyễn Hồng L1 trong mẫu cần giám định (ký hiệu “Giọng nữ 2” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định kèm theo kết luận giám định số 3935/C09-P6 ngày 20/8/2021 của V2 Bộ C1 và bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định kèm theo Kết luận giám định này);
-
Có tiếng nói của Nguyễn Thị L trong 3 tệp tin âm thanh lưu trữ trong 3 đĩa CD-R gửi giám định bổ sung (ký hiệu “Lan” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định). Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định, cụ thể:
- Tại các file ghi âm do bà Nguyễn Thị T1 cung cấp:
- + Tại tệp tin: 2020-12-20-14-26-IMG-0983.MP4 thể hiện việc bà T1, anh Q, chị L1 đến nhà bị can Nguyễn Thị L để yêu cầu L trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng đã nhận để xin chuyển công tác cho người nhà chị L1 là anh Nguyễn Hùng C, thì Nguyễn Thị L nói “Tao không phải không giả, tao cho nó gặp trực tiếp những cái người giải quyết cho tao... mày với tao làm cái gì, người trung gian làm cái đéo gì mà sợ”.
- Chị T1 nói: Hai tỷ thì con đưa tiền mặt cho bà đàng hoàng.
- L nói: Tao đã bảo ba mặt một lời, gọi mấy đứa kia nó nhận tiền đưa lên
- Chị T1 nói: T4 thì bây giờ bà cầm rồi bà phải có trách nhiệm
- L:....
- Anh Q nói: Hai tỷ chứ có phải hai mươi triệu đâu mà, hai mươi triệu ra pháp luật cũng chết rồi...Đây là cưỡng đoạt tài sản chứ có phải..T5 tội lừa đảo chứ không phải là đơn giản.
- L nói với anh Q: Mày doạ tao đấy hả Q...Cứ tình cảm đã...Vì nhờ cái này tao cũng vì cây dây cuốn, tao nhờ xong tao cũng lại nhanh ẩu đoảng tao lại đưa lên trên chỗ con Hằng này, chính con H2 này nó xác nhận nó đã lấy của tao như thế nào...Nhờ xong rồi nhưng bây giờ nó cũng xù mẹ cả tiền của mình rồi kia kìa...
- + Tại tệp tin: “FILE-20210131-095641-Phỏng vấn 058.MP4 thể hiện:
- L nói: Thằng C nó có đưa tao đâu
- Chị H2 nói: À con L1 đưa cho bà bao nhiêu tiền?
- L nói: Con L1 có đưa cho tao đâu, mà tao làm ăn với con T1
- L nói: nhưng nó cứ đá việc nọ sang việc kia, thì coi như bây giờ nó nói tao, tao bảo tao không nhận.
- Chị H2 nói: Giờ nó nói bà là như thế nào?
- L nói: Là nó nói tao chuyển cho tao rồi.
- Chị H2 hỏi: Chuyển bao nhiêu?
- L nói: Nó bảo nó chuyển hai
- Chị H2 hỏi: Hai tỷ?
5
- L nói: Ờ, nhưng mà trừ giữa tao với than với nó, tiền than với nó là tàu nọ tàu kia hiện nay cái thằng trưởng tàu thì bị bắt.
- + Tại tệp tin: “2021-02-25-11-45-IMG-1853.MP4" thể hiện Nguyễn Thị L nói cho chị T1 biết lý do không chuyển công tác cho anh Nguyễn Hùng C được “thứ ba nữa là vi phạm, tự nhiên làm đâu là có quyết định là bị kỷ luật đẻ đứa thứ ba cho nên không thể về Hà Nội được, đó là hai lý do để mà chỗ con ấy thằng C kia nó bị sai, con hiểu không?”; Bị can L cho biết đã cho L1, C và H2 gặp nhau rồi, quá trình làm không nói lại cho L biết thì bây giờ anh C bị kỷ luật không làm được. Lan muốn chị T1 bảo vệ L “Bà với con là mẹ con với nhau thì làm cái gì cũng phải bảo vệ nhau. Bà nói như thế để con hiểu, lúc nào bà nói chuyện với con riêng nhá. Thật thà đều có lợi vì bà làm không làm thì thôi, đang làm tự nhiên lại có kỷ luật đẻ đứa thứ ba thì bố ai mà làm lôi nó về đây được. Đó là lỗi bên nó chứ không phải lỗi bên mình, con gái hiểu không”.
- + Tại file ghi âm (tệp tin “20201220-143514.MP4") do anh Lại Đức Q giao nộp thể hiện việc trao đổi giữa Nguyễn Thị L với anh Q xoay quanh vấn đề xử lý việc giải quyết số tiền L đã nhận của chị T1 để xin chuyển công tác cho anh C; Anh Q hỏi L “Thế mai bà gặp nó định hướng như thế nào, chuyện trò như nào?”, L nói “mọi việc cùng phải từ từ rồi giải quyết, ầm ĩ lên cũng găng bên nọ bên kia cũng không giải quyết được vấn đề gì, đúng không?”. Anh Q khuyên L giải quyết mọi việc cho êm đẹp, không phải ra pháp luật. L nói “chúng mày con cái có cái gì không nên không phải bảo bà già, bà cũng có cái sai mà chúng mày trẻ cũng có cái sai”.
- Tại file ghi âm do bà H2 giao nộp: (tệp tin: File-20210131-095641-phỏng vấn 058.MP4) có nội dung Nguyễn Thị L hỏi bà H2 về bộ hồ sơ xin chuyến công tác của anh C, hỏi lý lịch anh C có 3 con hay 2 con, lý do không chuyển công tác được cho anh C là anh C bị kỷ luật do sinh con thứ 3, bà H2 cho biết bộ hồ sơ xin chuyển công tác của anh C bà H2 đang giữ, trong bộ hồ sơ không có lý lịch.
Nguyễn Thị L trao đổi nói với bà H2 là L nhận tiền 2.000.000.000 đồng của chị T1 chứ không phải từ anh C hay chị L1; L muốn chuyển 2.000.000.000 đồng nhận xin chuyển công tác cho anh C thành tiền mua bán tàu than “Chuyển qua chuyển lại thì tao không sợ cái chuyện này”, “Bởi vì nợ tao nợ nó chuyển về để tao mua than của tao”. Lan nhờ bà H2 bảo vệ L, không thừa nhận việc nhận tiền và nhận hồ sơ xin chuyển công tác cho anh C vì L đang bí tiền, L sẽ bù đắp cho bà H2 việc khác nhưng bà H2 nói “Bí nhưng bà không thể nói với nó như thế được”, bà H2 từ chối yêu cầu của L.
- Tại các file ghi âm do chị Nguyễn Hồng L1 giao nộp:
- + Tại tệp Lan 1.m4a thể hiện L nói với chị L1 để lo việc xin chuyển công tác cho anh C.
- + Tại tệp Lan 2.m4a thể hiện việc trao đổi giữa L với chị L1, về việc chuyển công tác cho anh C về công tác tại Văn phòng Bộ C1 trước, sau đó mới rút lên làm thư ký cho lãnh đạo Bộ.
6
-
+ Tại tệp L 3 m4a thể hiện việc L hứa hẹn trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng đã nhận để xin chuyển công tác cho anh C với chị L1 trong thời hạn 02 tháng, cụ thể:
Chị L1 nói: Lui cho bà một tháng chứ gì?
L nói: Ừ
Chị L1 hỏi: Một tháng là ngày nào, bà nói cho con?
L nói: Kể từ hôm nay đến mùng 2 tháng tới.
Chị L1 nói: Kể từ hôm nay, hôm nay là mùng 2.
L nói: Tháng 9.
Chị L1 nói: Tháng 9 âm.
L nói: Đến mùng 2 tháng 10.
Chị L1 hỏi: Đến mùng 2 tháng 10 âm?
L trả lời: Rồi.
Chị L1 nói: Thì là bà trả hết cho con đủ hai tỷ, thì không con nói tiếp, cái đấy xong, thì coi như là đấy là bà hẹn con đến ngày hôm đấy là để xử lý việc chỗ của anh C...
Tại bản Kết luận giám định bổ sung số 3935/C09-P6 ngày 20/8/2021 của V2 - Bộ C1 kết luận về 02 tệp video được lưu giữ trong 01 USB nhãn hiệu Kingstơn; 04 tệp video được lưu trong 01 USB màu đen nhãn hiệu SanDisk; 01 tệp âm thanh được lưu trong 01 USB màu xanh lá nhãn hiệu Kingstơn: Có tiếng nói của bà Nguyễn Thị L trong mẫu cần giám định (ký hiệu “Lan” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định. Nội dung hội thoại trong các tập tin gửi giám định đã được dịch ra thành văn bản. Kèm theo kết luận giám định có 01 bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định gồm 34 trang giấy A4.
Đối với bà Phạm Bích H2 khai: Khoảng đầu tháng 7/2020 Nguyễn Thị L có nói và nhờ bà H2 xin chuyển công tác cho cháu bà L là anh Nguyễn Hùng C từ Công an tỉnh Q về làm thư ký cho Lãnh đạo Bộ C1 hoặc về Văn phòng Bộ C1, L nói anh C là cháu nên không có tiền nong gì; sau đó L gửi xe ôm đem bộ hồ sơ xin chuyển công tác của anh C đến nhà bà H2 tại số H, ngách A đường N, phường H, quân T, Hà Nội đưa cho bà H2; bà H2 có đi hỏi một số người quen, thì được biết anh C không đủ điều kiện chuyển công tác về làm thư ký cho Lãnh đạo Bộ C1 nên bà H2 không nhận lời xin chuyển công tác cho anh C về Bộ C1, bà H2 cũng không được L đưa tiền để xin chuyển công tác cho anh C. Đến cuối tháng 8/2020 L điện thoại cho bà H2 hỏi về bộ hồ sơ xin chuyển công tác cho anh C, thì bà H2 có hỏi L có nhận tiền để xin chuyển công tác cho anh C không? Thì L thừa nhận có nhận 2.000.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị T1 nhưng do không xin chuyển công tác được cho anh C nên L muốn chối bỏ việc nhận 2.000.000.000 đồng của chị L1 và L nói với bà H2 muốn chuyển số tiền của chị L1 xin chuyển công tác cho anh C thành tiền làm ăn, mua bán than với chị T1, nội dung này đã được bà H2 ghi âm và trình báo giao nộp cho Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1. Xét hành vi của bà Phạm Bích H2 không phạm tội hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không đề cập xử lý.
7
Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, chị Nguyễn Hồng L1 yêu cầu bị can Nguyễn Thị L phải trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng và đề nghị xử lý bị cáo L theo quy định pháp luật.
Tại Bản Cáo trạng số 128/CT-VKS-P3 ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đã truy tố: Nguyễn Thị Lan về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 518/2023/HS-ST ngày 30/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt Nguyễn Thị L 11 (mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải bồi thường cho bị hại là chị Nguyễn Hồng L1 số tiền 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 10/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo Nguyễn Thị L vắng mặt vì lý do đang điều trị bệnh.
- - Luật sư Bùi Văn T và Luật sư Hàn Lê H1 đề nghị Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm để điều tra lại vì cho rằng chứng cứ bị tạo dựng, không có căn cứ xác định Nguyễn Thị L đã nhận tiền từ chị Nguyễn Thị T1 và không có căn cứ cho rằng số tiền 1.700.000.000 đồng Lan gửi Ngân hàng B lúc 16h35' ngày 04/6/2020 là tiền nhận từ chị T1.
- - Chị Nguyễn Hồng L1 và anh Lại Đức Q vẫn khai như đã khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm và như nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu. Chị L1 đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên có ý kiến như sau: mặc dù bị cáo Nguyễn Thị L không nhận tội, không khai nhận hành vi nhưng căn cứ vào các file ghi âm, lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thị L đã nhận số tiền 2 tỷ đồng của chị Nguyễn Hồng L1 thông qua chị T1 để xin chuyển việc cho anh Nguyễn Hùng C, trong khi bị cáo L không có chức năng, quyền hạn, thẩm quyền chuyển việc và sau đó chiếm đoạt số tiền này. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Nguyễn Thị L về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
8
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 30/9/2023 Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 10/10/2023 bị cáo Nguyễn Thị L kháng cáo là trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Bị cáo vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm và có đơn xin hoãn phiên toà vì lý do đang điều trị bệnh. Tuy nhiên, sau khi xem xét hồ sơ bệnh án của bị cáo và thấy rằng đây là phiên toà xét xử lần thứ 3, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của bị cáo, tại phiên toà phúc thẩm có mặt 02 Luật sư bào chữa cho bị cáo và xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử và không thuộc trường hợp phải hoãn phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục phiên toà và xét xử phúc thẩm vụ án là đúng quy định tại các Điều 351, 352 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L kêu oan, không thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) mà chị Nguyễn Thị T1 đưa cho bị cáo để xin chuyển công tác cho anh Nguyễn Hùng C, thấy rằng: Người bị hại là chị Nguyễn Hồng L1 (BL353-362) và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hùng C (BL380-383), chị Nguyễn Thị T1 (BL363-379), người làm chứng là bà Phạm Bích H2 (BL391-394, 408-415) và anh Lại Đức Q (BL384-390) đều khai thống nhất: Bị cáo Nguyễn Thị L có quan hệ quen biết với chị Nguyễn Hồng L1 và giới thiệu với chị L1 là có quen biết nhiều người có chức vụ trong ngành Công an, có khả năng xin chuyển công tác trong ngành Công an. Tin lời bị cáo L là thật nên thông qua chị Nguyễn Thị T1, chị L1 đã chuyển số tiền 2.000.000.000 đồng cho bị cáo L để nhờ bị cáo L xin chuyển công tác cho anh họ là Nguyễn Hùng C từ Công an tỉnh Q đến công tác tại Văn phòng Bộ C1. Sau khi nhận tiền, bị cáo L không thực hiện như lời hứa; chị L1 yêu cầu bị cáo L trả lại tiền nhưng bị cáo L không trả, nại ra nhiều lý do khác nhau rồi sau đó bị cáo L không thừa nhận việc nhận số tiền trên của chị L1 để chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng của chị L1.
[4] Lời khai của người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với vật chứng là các file ghi âm (đã được giám định) do chị Nguyễn Thị T1, bà Phạm Bích H2 và chị Nguyễn Hồng L1 cung cấp đã được giám định và dịch tại quá trình điều tra từ các bút lục 286 đến 300; 314 đến 330; 344 đến 345; tin nhắn xác nhận đã nhận 2.000.000.000 đồng từ bị cáo L nhắn tin cho chị T1 “Bà nhận của con 2 tỷ ngày 04/6/2020 rồi. Bà nhớ mà” tại bút lục 06, 376 và phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như tài liệu xác minh tại Ngân hàng V thể hiện 10h08 phút sáng ngày 04/6/2020 tài khoản chị Nguyễn Thị T1 phát sinh có 2.000.000.000 đồng được nộp tại V Chi nhánh Q1 với nội dung “chuyển tiền bà Lan Hà N2 xử lý công việc” (BL97, 124), người nộp tiền vào tài khoản chị T1 là chị L1 (BL352) và chị T1 rút tiền lúc 16h14 phút cùng ngày tại V Chi nhánh B1 (BL88, 98); xác minh tại Ngân hàng B 16h43 phút ngày 04/6/2020 bà L có gửi tiết kiệm 1,7 tỷ đồng (BL57, 64, 72-80); phù hợp với dữ liệu do Tổng công ty
9
V3 cung cấp (BL138-270) thể hiện có việc liên lạc giữa số điện thoại của bị cáo L với bị hại, người làm chứng. Tại phiên toà phúc thẩm, chị L1 đã xuất trình cho Hội đồng xét xử trực tiếp xem tin nhắn còn lưu trong máy điện thoại của chị L1, trong đó Nguyễn Thị L nhắn tin từ số điện thoại của L 0909.818.xxx hứa sẽ trả đủ chị L1 số tiền 02 tỷ đồng.
[5] Trong qúa trình giải quyết vụ án, bản thân bị cáo Nguyễn Thị L cũng thừa nhận có nội dung file ghi âm là đúng nhưng nại ra rằng bị anh Lại Đức Q dí dao vào cổ để ép bị cáo nói những nội dung như trong các file ghi âm. Tại phiên toà phúc thẩm, anh Q xác nhận không có việc đó vì đó là file ghi âm qua điện thoại nên không có việc anh Q dí dao vào cổ để ép bà L nói như trong file ghi âm được. Về file ghi âm bà Phạm Bích H2 cung cấp, bị cáo cũng nại ra rằng con bà H2 là anh D và bà H2 cũng nhiều lần dọa dẫm bị cáo để nói những nội dung như vậy nhưng bị cáo không đưa ra được căn cứ chứng minh việc bị dọa khai, ép khai.
[6] Về nguồn tiền của bị cáo Nguyễn Thị L gửi tại Ngân hàng B ngày 04/6/2020, Luật sư Hàn Lê H1 và Luật sư Bùi Văn T bào chữa cho bị cáo L cho rằng chưa làm rõ được nguồn tiền vì bị cáo khai tiền trên vay của Luật sư. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện ngày 17/5/2021 bị cáo khai là tiền bán nhà sau đó tại phiên toà sơ thẩm lại xuất trình giấy xác nhận và khai là tiền do Luật sư L3 vay và trả bị cáo ngày 27/5/2020, thể hiện việc khai báo thiếu thống nhất và không có căn cứ chấp nhận. Các Luật sư còn cho rằng chị T1 rút tiền tại V C lúc 16h15 phút thì bị cáo L không thể di chuyển kịp tới B tại số A Quán T để gửi tiền lúc 16h35 phút là không có căn cứ chấp nhận vì khoảng cách giữa hai vị trí này chỉ khoảng 2km.
[7] Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của bị hại (chị L1), người làm chứng (anh Q) tại phiên toà phúc thẩm, có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Nguyễn Thị L đã dùng thủ đoạn gian dối để bị hại tin và chuyển số tiền 2.000.000.000 đồng cho bị cáo, sau đó bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại số tiền này. Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, không chấp nhận ý kiến của các Luật sư bào chữa cho bị cáo L tại phiên toà phúc thẩm.
[8] Về hình phạt đối với bị cáo: Điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình và cho đến thời điểm hiện tại vẫn kêu oan, chưa bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử tại Bản án số 353/2008/HSST ngày 22/10/2007 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nhưng cho hưởng án treo, mặc dù đã được xóa án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo chỉ có tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội đủ 70 tuổi trở lên qui định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 51 nhưng không nêu căn cứ áp dụng và không áp
10
dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, sau đó xử phạt bị cáo L 11 năm tù (là mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại Khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự) là có phần nhẹ. Tuy nhiên, chỉ có bị cáo kháng cáo kêu oan, không có kháng cáo, kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử chỉ rút kinh nghiệm đối với Tòa án cấp sơ thẩm.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại (chị Nguyễn Hồng L1) có yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền bị cáo Nguyễn Thị đ chiếm đoạt là 2.000.000.000 đồng. Xét thấy, đây là số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại, hiện tại bị cáo chưa bồi thường nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo L bồi thường cho bị hại là chị Nguyễn Hồng L1 số tiền 2.000.000.000 đồng, đồng thời buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 72.000.000 đồng (36.000.000 đồng + 3% ((2.000.000.000-800.000.000 = 1.200.000.000) = 36.000.000 đồng)) án phí dân sự sơ thẩm là đúng quy định pháp luật.
[10] Về các vấn đề khác: Do bị cáo Nguyễn Thị L phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại là chị Nguyễn Hồng L1 số tiền 2.000.000.000 đồng nên TAND cấp sơ thẩm tuyên tiếp tục tạm giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CO097882 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 19/10/2018; thửa đất số 365, tờ bản đồ số 11, diện tích 468,8m2 tại phố V, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, thửa đất mang tên Nguyễn Thị L (sinh năm 1946; trú tại số nhà A, phố Q, quận B, thành phố Hà Nội) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[11] Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L, cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
[12] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 518/2023/HSST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh |
11
|
Trần Thị Quỳnh |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Ong Thân Thắng Nguyễn Tiến Dũng |
Trần Thị Quỳnh |
12
13
Bản án số 554/2024/HS-PT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 554/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Lan phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
