|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 554/2024/HC-PT Ngày: 17 - 6- 2024 “V/v Khiếu kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
- Các Thẩm phán: Ông Phan Nhựt Bình
- Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 107/2024/TLPT-HC ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 179/2023/HC-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 833/2024/HC-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Võ Thị H năm 1965; (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Sỹ T năm 1979; Địa chỉ: A, Phường G, thành phố V (có mặt)
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân tỉnh B1
- Ủy ban nhân dân huyện B1
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B1
Đại diện thep pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 tịch (đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Văn M giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B ông Dương Quốc H1 viên phòng quản lý đất đai. (Ông M1 đơn xin xét xử vắng mặt và ông H1có mặt)
Đại diện theo pháp luật: ông Dương Tấn B– Chủ tịch (đơn xin vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Văn D– Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số G, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Người kháng cáo: người khởi kiện - bà Võ Thị H2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện nội dung như sau:
Vào ngày 05/7/2002, UBND tỉnh B1 hành Quyết định số 5707/QĐ-UB về việc phê duyệt kinh phí đến bù giải tỏa thu hồi 8.418,9m² của gia đình bà Võ Thị H3 xây dựng Hệ thống kênh thuộc hồ chứa nước Đá Đen. Trong quá trình thu hồi đất gia đình bà H4 thực hiện việc giao đất để nhà nước thực hiện xây dựng công trình Hệ thống kênh trên. Tuy vậy, trong nhiều năm sau đó dự án vẫn không thực hiện.
Ngày 24 tháng 12 năm 2010, UBND tỉnh B1 hành Quyết định số 3497/QĐ-UBND về việc thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen tại xã S, xã N thuộc huyện C; xã H, xã L thuộc thị xã B Q1(trước đây là Ban Q2không còn nhu cầu sử dụng đất được giao (gọi tắt là Quyết định số 3497). Theo nội dung Quyết định số 3497, UBND huyện có trách nhiệm triển khai Quyết định này. Trong đó UBND huyện Cxem xét hoàn trả Quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất trước khi có Quyết định thu hồi đất số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật đất đai. Bà H5 một số hộ dân cùng bị thu hồi đất để xây dựng Hệ thống kênh mương cho biết họ đã được nhận lại Quyền sử dụng đất. Nhưng bà H6 chưa được UBND huyện B1 thực hiện việc hoàn trả lại đất hoặc thực hiện việc bồi thường cho bà H7 đúng quy định về bồi thường khi thu hồi đất. Bà H8 làm đơn khiếu nại nhưng UBND huyện C giải quyết khiếu nại mà chỉ trả lời bằng văn bản có nội dung là căn cứ Quyết định số 3497, nên gia đình bà không thuộc diện được trả lại đất và có gửi kèm theo Quyết định số 3497 (bản phô tô).
Nội dung của Quyết định số 3497 đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật về đất đai, cụ thể là khoản 3 Điều 74 Luật Đất Đai: “Việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật”, bởi những lý do sau:
Thứ nhất, Việc thu hồi đất để xây dựng xây dựng Hệ thống kênh thuộc hồ chứa nước Đá Đen đây là công trình thuộc hệ thống các công trình về an sinh xã hội. Còn đối với việc thu hồi đất sử dụng vào xây dựng Khu công nghiệp -là sử dụng vào mục đích thương mại dịch vụ (có thu tiền). Hai mục đích thu hồi đất khác nhau. Không sử dụng đúng mục đích khi thu hồi đất của người dân, kế hoạch sử dụng đất khi thu hồi.
Thứ hai, Quyết định số 3497, UBND tỉnh B1 giao cho UBND huyện C hiện việc trả lại đất cho những người có đất không thuộc diện quy hoạch Khu công nghiệp và đô thị Ccòn đối với trường hợp thuộc quy hoạch thì giao cho Chủ đầu tư Khu công nghiệp - là Công ty Cổ phần Sviệc này là không công bằng giữa những người dân cùng bị thu hồi đất để sử dụng vào việc xây dựng Hệ thống kênh mương Hồ đá đen. Trong trường hợp này phải hoàn trả lại đất cho các hộ dân đã thu hồi đất vì đã hủy không thực hiện xây dựng Hệ thống kênh mương Hồ Đá Đ với diện tích đất nằm trong khu quy hoạch Khu công nghiệp bà H9 toàn chấp nhận chủ trương của nhà nước về việc xây dựng khu công nghiệp SONADEZI. Tuy nhiên phải bồi thường theo quy định về chính sách về việc thu hồi đất cho Khu công nghiệp - Đây là điều người dân mong muốn và thể hiện đúng sự công bằng.
Thứ ba, đối với Quyết định số 3497 ban hành đã xác định sai đối tượng điều chỉnh khi chấm dứt thực hiện Quyết định thu hồi đất số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Cụ thể: Chủ đầu tư Khu công nghiệp - là Công ty Cổ phần Skhông thuộc đối tượng của Quyết định thu hồi đất số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ cũng như Quyết định số 5704/QĐ-UB về việc phê duyệt kinh phí đến bù giải tỏa thu hồi 8.418,9m² của gia đình bà H3 xây dựng Hệ thống kênh thuộc hồ chứa nước Đá Đen. Nhưng lại được hưởng lợi khi UBND tỉnh không thực hiện dự án này và hủy bỏ Quyết định này.
Thứ 4, Quyết định số 3497 ban hành vi phạm thẩm quyền, quyết định nay điều chỉnh Quyết định thu hồi đất số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Vi phạm quy định của Luật ban hành quy phạm pháp luật năm 2008.
Thứ 5, Căn cứ Quyết định số 4086 ngà 07-12-2009 của UBND tỉnh về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/2000 khu công nghiệp Đ khu đất của bà H5 xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và khu tái định cư, khu điều chỉnh. Do đó việc UBND tỉnh đã ban hành sai mục đích thu hồi ban đầu nhằm phục vụ công cộng, an sinh xã hội. Việc này gây thiệt hại cho nhà nước cho người dân và làm lợi cho doanh nghiệp.
Vì những lý do trên, ngày 10/01/2013 khi bà H10 được Quyết định số 3497 (do UBND huyện C nộp đơn khiếu nại tới UBND huyện C ban hành Công văn số 366/UBND-VP trả lời đơn khiếu nại chứ chưa hề ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại của bà HNgày 25/8/2020, bà tiếp tục làm Đơn kiến nghị tới UBND huyện Cvề vấn đề trên. Ngày 06/10/2020 UBND huyện C Công văn số 4830/UBND-TNMT về việc trả lời đơn kiến nghị của bà H11 nội dung Công văn, UBND huyện C giữ nguyên quan điểm và không giải quyết bồi thường một cách thỏa đáng cho gia đình bà H
Ngày 09/11/2020, bà H12 Đơn khiếu lại lên Chủ tịch UBND huyện C cầu giải quyết. Ngày 08/3/2021, Chủ tịch UBND huyện Cban hành Quyết định số 1141/QĐ –UBND về việc giải quyết hiếu nại của bà Võ Thị H13 nại Công văn số 4380/UBND-TNMT ngày 06/10/2020 của UBND huyện (lần đầu), qua đó UBND huyện Cbác nội dung khiếu lại của bà Võ Thị H14 giữ nguyên nội dung Công văn số 4830/UBND-TNMT.
Ngày 28/4/2021, bà H15 Đơn khiếu nại lần hai tới UBND huyện CTuy nhiên, sau đó UBND huyện B1 ban hành một loạt các Quyết định để thu hồi, hủy toàn bộ các Quyết định liên quan đến quá trình giải quyết khiếu nại của bà H
Cụ thể, ngày 11/10/2021, UBND huyện Cban hành Thông báo số 4309/TB-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Thông báo số 5683/TB-UBND ngày 01/12/2020 của Chủ tịch UBND huyện và Thông báo số 4310/Tb-UBND về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại; ngày 14/10/2021, Chủ tịch UBND huyện Cban hành Quyết định số 4125/QĐ –UBND về việc thu hồi. UBND huyện C, hủy bỏ các quyết định trên vì lý do: Nội dung khiếu nại liên quan đến Quyết định số 3497; đơn khiếu nại không được thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 11, Luật khiếu nại năm 2011.
Theo đó, ngày 01/11/2021, Chủ tịch UBND huyện Cban hành Quyết định số 3532/ QĐ –UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1025/QĐ –UBND ngày 14/4/2021 và Thông báo số 246/TB-UBND ngày 14/4/2021 của UBND tỉnh Bcủa Chủ tịch UBND huyện, qua đó hủy đi quá trình giải quyết khiếu nại lần hai của bà H16 Quyết định giải quyết khiếu nại lần một của UBND huyện B1 bị thu hồi, hủy bỏ.
Việc hủy bỏ các Văn bản như đã nêu ở trên của UBND huyện C lấy lý do vì nội dung khiếu nại có liên quan đến Quyết định số 3497 là văn bản nội bộ là không đúng. Bởi Quyết định số 3497 có nội dung ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của gia đình bà H17 nữa còn vi phạm nghiêm trọng quy tắc công bằng trong việc bồi thường cho người dân khi nhà nước thu hồi đất, không đúng đối tượng của Quyết định thu hồi đất số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ, bởi theo luật ban hành văn bản khi một Quyết định bị đình chỉ thì hậu quả pháp lý là đất được trả lại cho người đó.
Vì vậy, bà Võ Thị H18 kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 3479/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 việc thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi hồ chứa nước Đá Đen; cụ thể: Hủy điểm b khoản 2 Điều 2 của Quyết định 3497/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1
- Hủy Quyết định số 4125/QĐ-UBND ngày 14/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1141/QĐ-UBND ngày 08/3/2021.
- Hủy Công văn số 366/UBND-VP ngày 01/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện Cvề việc trả lời đơn khiếu nại của bà Võ Thị H19 tại ấp Đ, xã H, thành phố B
- Hủy Công văn số 2437/UBND-TNMT ngày 14/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời đơn kiến nghị của bà Võ Thị Huỳnh .
- Buộc UBND huyện Cban hành quyết định thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho bà H20 tích đất 8.418,9m² theo giá đất tại thời điểm hiện tại.
[2] Người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh B1:
2.1. Trình tự, thủ tục thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với bà Võ Thị Huỳnh
Ngày 12/5/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 430/QĐ-TTg về việc giao đất cho Ban Q1 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Ngày 05/7/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 hành Quyết định số 5606/QĐ.UB về việc phê duyệt kinh phí đền bù cho 113 hộ dân cư có đất bị thu hồi để xây dựng Hệ thống kênh chính thuộc công trình hồ Đ, xã N, huyện C, hộ bà H8 đất thu hồi là 8.112,9m² đất nông nghiệp. Cùng ngày 05/7/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 hành Quyết định số 5707/QĐ.UB về việc phê duyệt kinh phí đền bù cho hộ bà Võ Thị H2(Võ Thị Q tổng số tiền đền bù là 32.772.823 đồng, trong đó: bồi thường thiệt hại do thu hồi đất là 27.421.602 đồng (diện tích 8.112,9m² đất nông nghiệp), bồi thường đất mượn tạm để thi công (306m² đất nông nghiệp) là 88.281 đồng, bồi thường thiệt hại về hoa màu là 5.262.940 đồng. Phần kinh phí đền bù này hộ bà H4 nhận đủ và đã bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư.
Tuy nhiên, sau khi thu hồi và đền bù cho các hộ dân thì dự án Hệ thống kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen triển khai thực hiện không hiệu quả, đồng thời Thủ tướng Chính phủ cũng có Văn bản số 919/TTg-CN ngày 11/7/2007 đồng ý chủ trương đầu tư xây dựng Khu Công nghiệp - Ngày 28/8/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnB1 có Quyết định số 2915/QĐ-UB phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu Công nghiệp -Quyết định số 4086/QĐ-UB ngày 07/12/2009 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu Công nghiệp -
Ngày 24/12/2010, Chủ tịch UBND tỉnh B1 hành Quyết định số 3497/QĐ-UBND về việc thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen do Ban Q1(trước đây là Ban Q2không còn nhu cầu sử dụng đất được giao. Trong đó: Diện tích thu hồi tại huyện C 384.280,4m² và UBND huyện Ccó trách nhiệm:
“a/- Đối với phần diện tích đất ngoài Khu Công nghiệp -
Tổ chức tiếp nhận toàn bộ diện tích đất thu hồi thuộc huyện C quản lý và xem xét lập thủ tục hoàn trả Quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất trước khi có Quyết định thu hồi đất số: 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật đất đai.
Thu hồi số tiền đã bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất bị thu hồi đất trước đây và nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định.
b/- Đối với phần diện tích đất trong Khu Công nghiệp -
Chủ đầu tư Khu Công nghiệp -là Công ty Cổ phần Scó trách nhiệm nộp hoàn lại số tiền đã bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất bị thu hồi trước đây vào Ngân sách Nhà nước theo quy định pháp luật”.
Như vậy, Quyết định số 3497 được ban hành đúng quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai 2003.
Đối với diện tích đất trước đây bị thu hồi theo Quyết định số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ để đầu tư xây dựng công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen nhưng hiện nay nằm ngoài quy hoạch xây dựng Khu Công nghiệp - thì thực hiện thủ tục hoàn trả lại quyền sử dụng đất cho hộ dân; đối với trường hợp hiện nay nằm trong quy hoạch xây dựng Khu Công nghiệp - thì không thực hiện thủ tục hoàn trả lại quyền sử dụng đất cho hộ dân. Qua rà soát số liệu thu hồi đất của tuyến kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen và bản đồ thu hồi đất công trình Khu Công nghiệp - thì toàn bộ phần diện tích 8.112,9m² của bà H21 các thửa đất số 464, 590, 591, 592, 589, 588, 596, 595, 594, 597, 598, 599, 600, 617, 598, 616, 615, 721, 614, 611, 610, 1135 tờ bản đồ số 8 xã H(cũ) đều nằm trong phạm vi thu hồi công trình Khu Công nghiệp - Việc bà Hđề nghị hoàn trả lại đất cho gia đình bà do không thực hiện đầu tư xây dựng hạng mục tuyến kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen là không có cơ sở để giải quyết.
2.2. Quá trình giải quyết khiếu nại của bà Võ Thị Huỳnh
Ngày 06/01/2013, bà H8 đơn khiếu nại gửi Ủy ban nhân dân huyện C nội dung yêu cầu: Nếu nhà nước không tiếp tục thực hiện công trình Hồ chứa nước Đá Đen thì phải hoàn trả lại đất đã thu hồi, đồng thời gia đình bà sẽ hoàn trả lại cho Nhà nước số tiền đền bù đã nhận trước đây; nếu Nhà nước thu hồi để xây dựng Khu Công nghiệp -thì đề nghị được kiểm kê lại toàn bộ phần diện tích đất và áp dụng chính chính sách bồi thường theo quy định.
Ngày 01/3/2013, Ủy ban nhân dân huyện C số 366/UBND-VP về việc trả lời đơn của bà Võ Thị H22 nội dung không có cơ sở để xem xét giải quyết.
Không đồng ý với nội dung Công văn số 366/UBND-VP ngày 01/3/2013 của Ủy ban nhân dân huyện C đơn khiếu nại gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B1
Ngày 04/6/2014, T2tban hành tỉnh (thừa ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh tại Văn bản số 3038/UBND-VP ngày 12/5/2014) có Văn bản số 979/TTr-NV1 thông báo kết quả giải quyết đơn khiếu nại đến bà Võ Thị H22 nội dung khiếu nại của bà H21 trường hợp không được thụ lý giải quyết theo quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 11 của Luật Khiếu nại năm 2011.
Ngày 23/7/2018, bà Võ Thị H23 đơn đề nghị được trả lại tiền bồi thường đã nhận trước đây do thu hồi đất để đầu tư xây dựng hạng mục tuyến kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen; đồng thời đề nghị được bồi thường theo đơn giá đất thu hồi công trình: Khu Công nghiệp -Ngày 14/8/2018, Ủy ban nhân dân huyện C số 2437/UBND-TNMT về trả lời đơn kiến nghị của bà Võ Thị H24 không có cơ sở xem xét.
Ngày 25/8/2020, bà H25 tục có đơn đề nghị giải quyết với nội dung vụ việc không có tình tiết nào mới so với nội dung đơn trước đây. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện C số 4830/UBND-TNMT ngày 06/10/2020 về trả lời đơn kiến nghị của bà H24 không phù hợp với nội dung chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 Quyết định số 3497.
Không đồng ý với nội dung Công văn số 4830/UBND-TNMT ngày 06/10/2020 của Ủy ban nhân dân huyện C đơn khiếu nại ghi ngày 09/11/2020 với nội dung:“Yêu cầu Nhà nước hoàn trả lại phần diện tích 8.112,9m² đất trước đây Nhà nước đã thu hồi để đầu tư xây dựng hạng mục tuyến kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen nhưng không còn thực hiện hoặc phải bồi thường phần diện tích này theo đơn giá đất thu hồi công trình: Khu Công nghiệp -
Ngày 08/3/2021, Chủ tịch UBND huyện Cban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 1141/QĐ-UBND; bác toàn bộ nội dung khiếu nại của bà H7 đơn ghi ngày 09/11/2020 và nội dung khiếu nại theo Biên bản làm việc với T2tban hành huyện ngày 18/12/2020, giữ nguyên Công văn số 4830/UBND-TNMT ngày 06/10/2020 của Ủy ban nhân dân huyện C
Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 1141/QĐ-UBND ngày 08/3/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C tục có đơn khiếu nại gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân TỉnB1.
Tại Báo cáo số 270/BC-STNMT ngày 15/9/2021, Sở Txác định:“Diện tích đất 8.112,9m² mà bà Võ Thị Huỳnh h khiếu nại, trước đây bị thu hồi theo Quyết định số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ để đầu tư xây dựng Công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đltại tỉnh B - Vũng Tàuđã được Ủy ban nhân dân tỉnh B1 đền bù cho hộ bà Võ Thị H26 Quyết định số 5707/QĐ-UBND ngày 05/7/2002 với tổng kinh phí là 32.772.823 đồng. Đồng thời, hộ bà Võ Thị H27 nhận đầy đủ số tiền đền bù này và đã bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư. Mặc dù đến nay chưa xây dựng công trình gì trên đất nhưng quỹ đất này được xác định là công cộng do Nhà nước quản lý, nên Nhà nước có quyền sử dụng diện tích đất này vào bất cứ mục đích gì theo quy định của pháp luật. Trong thực tế, Nhà nước đã quy hoạch diện tích đất này để thực hiện dự án Khu Công nghiệp -
Vì những lý do trên xét thấy, việc bà Võ Thị H28 cầu Nhà nước hoàn trả lại quyền sử dụng 8.112,9m² đất trước đây đã thu hồi để đầu tư xây dựng hạng mục tuyến kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen và yêu cầu phải bồi thường phần diện tích này theo đơn giá đất thu hồi công trình Khu Công nghiệp - là không phù hợp với nội dung chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 Quyết định số 3497/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 và không có cơ sở giải quyết.
Nội dung khiếu nại này trước đây đã được T2tỉnh ban hành tỉnh (thừa ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh tại Văn bản số 3038/UBND-VP ngày 12/5/2014) có Văn bản số 979/TTr-NV1 ngày 04/6/2014 thông báo kết quả giải quyết đơn khiếu nại đến bà Võ Thị H22 nội dung: Theo quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 11 của Luật Khiếu nại năm 2011 thì khiếu nại của bà H21 trường hợp không được thụ lý giải quyết. Vì vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 hành quyết định giải quyết mà chỉ ban hành văn bản trả lời đối với nội dung khiếu nại của bà H
Ngày 27/9/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 Công văn số 13819/UBND-VP về chỉ đạo giải quyết vụ việc khiếu nại của bà Võ Thị Huỳnh . Tại Văn bản này, Chủ tịch UBND tỉnh B1 đạo: Giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, hủy bỏ các văn bản giải quyết khiếu nại không đúng quy định pháp luật theo kiến nghị của Sở Ttại Báo cáo số 270/BC-STNMT ngày 15/9/2021.
Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B1 ban hành Thông báo số 4309/TB-UBND ngày 11/10/2021 về việc thu hồi, hủy bỏ Thông báo số 5683/TB-UBND ngày 01/12/2020 về thụ lý khiếu nại lần đầu của bà Võ Thị H29 báo số 4310/TB-UBND ngày 11/10/2021 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của bà Võ Thị H30 định số 3976/QĐ-UBND ngày 11/10/2021 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 7571/QĐ-UBND ngày 01/12/2020 về giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại của bà Võ Thị H30 định số 4125/QĐ-UBND ngày 14/10/2021 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1141/QĐ-UBND ngày 08/3/2021 về giải quyết khiếu nại của bà Võ Thị Huỳnh .
Bà Võ Thị H31 Ủy ban nhân dân huyện C chứng nhận quyền sử dụng đất số B 114054 ngày 10/12/1992 đối với phần diện tích 47.340m² đất, tờ bản đồ số 8, 7, 28 của xã H(cũ).
Căn cứ Quyết định số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ thì phần diện tích đất thu hồi của bà Võ Thị H3 đầu tư xây dựng công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen là 8.112,9m² thuộc tờ bản đồ thu hồi số 3K tờ bản đồ địa chính số 8 xã H(cũ)). Bà Võ Thị H27 được phê duyệt kinh phí đền bù theo Quyết định số 5707/QĐ-UBND ngày 05/7/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 tổng kinh phí là 32.772.823 đồng. Trong đó: Bồi thường thiệt hại do thu hồi đất là 27.421.602 đồng (diện tích 8.112,9m² đất nông nghiệp), bồi thường đất mượn tạm để thi công (306m² đất nông nghiệp) là 88.281 đồng, bồi thường thiệt hại về hoa màu là 5.262.940 đồng. Phần kinh phí đền bù này hộ bà Võ Thị H27 nhận đủ và đã bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư.
Tuy nhiên, sau khi thu hồi và đền bù cho các hộ dân thì Dự án triển khai thực hiện không hiệu quả. Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 ban hành Quyết định số 3497/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 về việc thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen do Ban Q1(trước đây là Ban Q2không còn nhu cầu sử dụng đất được giao. Tại Quyết định này, Ủy ban nhân dân tỉnh B1
- Đối với phần diện tích đất ngoài Khu công nghiệp -Ủy ban nhân dân tỉnh huyện B1 trách nhiệm xem xét lập thủ tục hoàn trả quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất trước khi có Quyết định thu hồi đất số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ.
- Đối với phần diện tích đất trong Khu công nghiệp - đầu tư Khu công nghiệp - là Công ty cổ phần S1 trách nhiệm nộp hoàn lại số tiền đã bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất bị thu hồi trước đây vào Ngân sách Nhà nước.
Như vậy, mặc dù đã ngưng việc xây dựng hệ thống kênh chính thuộc công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen nhưng quỹ đất đã thu hồi vẫn được xác định là công cộng do Nhà nước quản lý nên Nhà nước có quyền sử dụng diện tích đất này vào bất cứ mục đích gì theo quy định của pháp luật. Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Văn bản số 919/TTg-CN ngày 11/7/2007 đồng ý chủ trương đầu tư xây dựng Khu Công nghiệp -(trong đó có phần diện tích đất đã thu hồi để đầu tư xây dựng hệ thống kênh chính thuộc công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen) và hiện nay Dự án này vẫn đang triển khai thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định.
Qua rà soát số liệu thu hồi đất của tuyến kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen và bản đồ thu hồi đất công trình Khu Công nghiệp -thì phần diện tích 8.112,9m² của bà H32 nằm trong phạm vi thu hồi công trình Khu công nghiệp - Việc bà H28 cầu bồi thường theo đơn giá đất thu hồi công trình Khu Công nghiệp - là không phù hợp với nội dung chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 Quyết định số 3497/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 và không có cơ sở giải quyết.
Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C Công văn số 366/UBND-VP ngày 01/3/2013, Công văn số 2437/UBND-TNMT ngày 14/8/2018, Công văn số 4830/UBND-TNMT ngày 06/10/2020 về trả lời đơn của bà Võ Thị H14 Quyết định số 4125/QĐ-UBND ngày 14/10/2021 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1141/QĐ-UBND ngày 08/3/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C quy định pháp luật và đúng theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 Quyết định số 3497.
Việc UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3497 thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai 2003.
Căn cứ hồ sơ tài liệu và chứng cứ thu thập, UBND huyện C nhận phần diện tích 8.112,9m² của bà H33 thu hồi nằm trong Quyết định số 3497, bà H27 nhận đủ và đã bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư là Ban Q1(trước đây là Ban Q2sau này chủ đầu tư không còn nhu cầu sử dụng và UBND tỉnh đã thu hồi quỹ đất này giao về cho UBND huyện Cquản lý, phần diện tích đất này nằm trong công trình Khu Công nghiệp -.
Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H24 không có căn cứ chấp nhận. Từ những cơ sở trên, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Huỳnh .
[3] Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện B1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C:
3.1. Trình tự, thủ tục thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với bà Võ Thị Huỳnh
Như Ủy ban nhân dân tỉnh B1 trình bày.
3.2. Quá trình giải quyết khiếu nại của bà Võ Thị Huỳnh
Thống nhất nội dung Ủy ban nhân dân tỉnh B1 trình bày; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Huỳnh .
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 179/2023/HC-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:
Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;
Áp dụng: Các Điều 38, 39, 42, 44 Luật đất đai năm 2003.
Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ khởi kiện của bà Võ Thị H2 đối với các yêu cầu sau:
- Hủy Quyết định số 3479/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 việc thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi hồ chứa nước Đá Đen tại xã S, xã N thuộc huyện C; xã H, xã L thuộc thị xã B Q1(trước đây là Ban Q2không còn nhu cầu sử dụng đất được giao; cụ thể: Hủy điểm b khoản 2 Điều 2 của Quyết định 3497/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1
- Hủy Quyết định số 4125/QĐ-UBND ngày 14/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1141/QĐ-UBND ngày 08/3/2021.
- Hủy Công văn số 366/UBND-VP ngày 01/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện Cvề việc trả lời đơn khiếu nại của bà Võ Thị H19 tại ấp Đ, xã H, thành phố B
- Hủy Công văn số 2437/UBND-TNMT ngày 14/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời đơn kiến nghị của bà Võ Thị Huỳnh .
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C quyết định thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho bà H20 tích đất 8.418,9m² theo giá đất tại thời điểm hiện tại.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 04/12/2023, bà Võ Thị H23 đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Hoàng S T3đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Võ Thị H34 bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H35 gồm:
- Hủy Quyết định số 3479/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 việc thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi hồ chứa nước Đá Đen tại xã S, xã N thuộc huyện C; xã H, xã L thuộc thị xã B Q1(trước đây là Ban Q2không còn nhu cầu sử dụng đất được giao; cụ thể: Hủy điểm b khoản 2 Điều 2 của Quyết định 3497/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1
- Hủy Quyết định số 4125/QĐ-UBND ngày 14/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1141/QĐ-UBND ngày 08/3/2021.
- Hủy Công văn số 366/UBND-VP ngày 01/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện Cvề việc trả lời đơn khiếu nại của bà Võ Thị H19 tại ấp Đ, xã H, thành phố B
- Hủy Công văn số 2437/UBND-TNMT ngày 14/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời đơn kiến nghị của bà Võ Thị Huỳnh .
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C quyết định thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho bà H20 tích đất 8.418,9m² theo giá đất tại thời điểm hiện tại.
Với các lý do: Theo Điều 2 Quyết định thể hiện đối với những hộ dân nằm ngoài khu công nghiệp thì trả lại, còn lại giao cho công ty. Điều này sai về thẩm quyền, không công bằng cho những hộ dân nằm trong dự án. Quyết định 3497 điều chỉnh giao cho công ty S2 đây không thuộc điều kiện để thu hồi. Phần diện tích của bà H2nằm trong phần xây dựng thu hồi công ty. Trước đây là xây dựng theo chính sách dự án xã hội. Sau này khi giao cho công ty thì đây mục đích thương mại. Do đó những Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện C có căn cứ quy định pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính về phiên tòa phúc thẩm. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận: Toàn bộ diễn biến vụ án như phần tóm tắt nội dung đã được viện dẫn ở trên. Xét kháng cáo của người khởi kiện bà Võ Thị H36 cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện vắng mặt có người đại diện theo ủy quyền tham gia; người bị kiện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án tiến hành phiên toà phúc thẩm xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
[1.2] Về đối tượng khởi kiện:
Ngày 24/12/2010, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 hành Quyết định số 3497/QĐ-UBND về việc thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen tại xã S, xã N thuộc huyện C; xã H, xã L thuộc thị xã B Q1(trước đây là Ban Q2không còn nhu cầu sử dụng đất được giao. Trong đó giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân huyện B1 có nội dung nào làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân bà Võ Thị H37 có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân bà HDo đó, Quyết định số 3497/QĐ-UBND nêu trên không phải là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện này của bà Võ Thị H24 không đúng.
Đối với các yêu cầu khởi kiện còn lại bao gồm: Hủy Quyết định số 4125/QĐ-UBND ngày 14/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1141/QĐ-UBND ngày 08/3/2021 về giải quyết khiếu nại của bà Võ Thị H38 Công văn số 366/UBND-VP ngày 01/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện C trả lời đơn khiếu nại của bà Võ Thị H38 Công văn số 2437/UBND-TNMT ngày 14/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời đơn kiến nghị của bà Võ Thị H39 UBND huyện Cban hành quyết định thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho bà H20 tích đất 8.418,9m² theo giá đất tại thời điểm hiện tại, là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[1.3] Về thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Sau khi nhận được Quyết định số 4125/QĐ-UBND ngày 14/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C 01/01/2023, bà Võ Thị H40 đơn khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính bị kiện nêu trên là còn thời hiệu khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định tại khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành:
Bà Võ Thị H31 Ủy ban nhân dân huyện C chứng nhận quyền sử dụng đất số B 114054 ngày 10/12/1992 đối với phần diện tích 47.340m² đất thuộc tờ bản đồ số 8, 7, 28 của xã H(cũ).
Ngày 12/5/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 430/QĐ-TTg về việc giao đất cho Ban Q1 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ngày 05/7/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 hành Quyết định số 5606/QĐ.UB về việc phê duyệt kinh phí đền bù cho 113 hộ dân cư có đất bị thu hồi để xây dựng Hệ thống kênh chính thuộc công trình hồ Đ, xã N, huyện C, hộ bà Võ Thị H41 thu hồi diện tích 8.112,9m² đất nông nghiệp. Cùng ngày 05/7/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 hành Quyết định số 5707/QĐ.UB về việc phê duyệt kinh phí đền bù cho hộ bà Võ Thị H2(Võ Thị Q tổng số tiền đền bù là 32.772.823 đồng. Phần kinh phí đền bù này hộ bà H27 nhận đủ và đã bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư từ năm 2003. Như vậy, trình tự, thủ tục thu hồi, bồi thường đối với diện tích đất của bà H27 được thực hiện xong từ năm 2003. Kể từ thời điểm này, bà H42 còn quyền, lợi ích liên quan đến diện tích 8.112,9m² đất nông nghiệp đã bị thu hồi.
Sau khi thu hồi và đền bù cho các hộ dân thì dự án Hệ thống kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen triển khai thực hiện không hiệu quả; đồng thời, Thủ tướng Chính phủ có Văn bản số 919/TTg-CN ngày 11/7/2007 đồng ý chủ trương đầu tư xây dựng Khu Công nghiệp - Ngày 28/8/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B1 hành Quyết định số 2915/QĐ-UB phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu Công nghiệp -Quyết định số 4086/QĐ-UB ngày 07/12/2009 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu Công nghiệp -
Ngày 24/12/2010, UBND tỉnh B1 hành Quyết định số 3497/QĐ-UBND về việc thu hồi 778.863,7m² đất xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen trước đây do Ban Q1(trước đây là Ban Q2không còn nhu cầu sử dụng đất được giao. Theo đó, đối với diện tích đất trước đây bị thu hồi theo Quyết định số 430/QĐ-TTg ngày 12/5/2000 của Thủ tướng Chính phủ để đầu tư xây dựng công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen nhưng hiện nay nằm ngoài quy hoạch xây dựng Khu Công nghiệp - thì thực hiện thủ tục hoàn trả lại quyền sử dụng đất cho hộ dân; đối với trường hợp hiện nay nằm trong quy hoạch xây dựng Khu Công nghiệp - thì không thực hiện thủ tục hoàn trả lại quyền sử dụng đất cho hộ dân. Qua rà soát số liệu thu hồi đất của tuyến kênh chính thuộc công trình Hồ chứa nước Đá Đen và bản đồ thu hồi đất công trình Khu Công nghiệp - thì toàn bộ phần diện tích 8.112,9m² đất của bà H43 đây bị thu hồi đều nằm trong phạm vi quy hoạch xây dựng công trình Khu Công nghiệp -
Ngày 06/01/2013, bà H23 đơn khiếu nại gửi Ủy ban nhân dân huyện C nội dung yêu cầu Nhà nước hoàn trả lại đất đã thu hồi, gia đình bà sẽ hoàn trả lại số tiền đền bù đã nhận trước đây; nếu Nhà nước thu hồi để xây dựng Khu Công nghiệp -thì đề nghị được kiểm kê lại toàn bộ phần diện tích đất và áp dụng chính chính sách bồi thường theo quy định.
Ngày 01/3/2013, Ủy ban nhân dân huyện B1 hành Văn bản số 366/UBND-VP về việc trả lời đơn của bà Võ Thị H22 nội dung không có cơ sở để xem xét giải quyết khiếu nại của bà H
Không đồng ý với nội dung Công văn số 366/UBND-VP nêu trên, bà Võ Thị H44 tục kiến nghị gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B1 14/8/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C Công văn số 2437/UBND-TNMT trả lời đơn kiến nghị của bà H42 có cơ sở để xem xét.
Bà H44 tục khiếu nại, ngày 08/3/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 1141/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của bà H Ngày 14/10/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C Quyết định số 4125/QĐ-UBND thu hồi, hủy bỏ Quyết định giải quyết khiếu nại số 1141/QĐ-UBND nêu trên.
Do bà H42 còn quyền, lợi ích liên quan đến diện tích 8.112,9m² đất nông nghiệp đã bị thu hồi, đồng thời, Quyết định số 3497/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 quyết định hành chính nội bộ, không có nội dung ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H45 theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 11 của Luật Khiếu nại năm 2011 thì các khiếu nại, đề nghị của bà Võ Thị H46 trường hợp không được thụ lý giải quyết. Vì vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh B1 ban hành quyết định giải quyết khiếu nại mà chỉ ban hành văn bản trả lời đối với bà H24 đúng quy định.
[2.2] Về nội dung:
Bà Võ Thị H47 khiếu nại đối với việc thu hồi, bồi thường 8.112,9m² đất nông nghiệp của bà để đầu tư xây dựng công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen theo Quyết định số 5606/QĐ.UB và Quyết định số 5607/QĐ.UB cùng ngày 05/7/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 đã hết thời hạn khiếu nại theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ hướng dẫn áp dụng một số điều của Luật đất đai năm 1993.
Tại khoản 1 Điều 40 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ.” và điểm a khoản 2 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây: Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm: Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);”.
Như vậy, việc chuyển đổi từ dự án đầu tư xây dựng công trình Thủy lợi Hồ chứa nước Đá Đen sang dự án xây dựng Khu Công nghiệp - đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận và đều thuộc thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Mặt khác, đối với diện tích đất sau khi thu hồi: Theo quy định tại Điều 41 Luật đất đai năm 2003 và điểm a khoản 2 Điều 68 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Đất đã thu hồi theo quy định.... (để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng) thì giao cho chủ đầu tư để thực hiện dự án đầu tư hoặc giao cho tổ chức dịch vụ công về đất đai để quản lý;”.
Bà H27 đồng ý với việc thu hồi đất, nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và đã bàn giao quyền sử dụng đất cho nhà nước, không có ý kiến gì khác. Do đó, phần diện tích 8.112,9m² đất nông nghiệp của bà H41 thu hồi từ năm 2003 đã được giao cho chủ đầu tư là Ban Q1(trước đây là Ban Q2và đến năm 2010 thì giao cho tổ chức dịch vụ công về đất đai (Ủy ban nhân dân huyện C – Vũng Tàu) quản lý nên bà H48 nghị được trả lại phần diện tích đất này là không có cơ sở để chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Võ Thị H2 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Người khởi kiện bà Võ Thị H2 phải chịu do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử:
- Căn cứ khoản 4 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H49:
- Hủy một phần Quyết định số 3479/QĐ-UBND ngày 24/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh B1 với diện tích 778.863,7m² đất đã được thu hồi để xây dựng kênh chính thuộc công trình Thủy lợi hồ chứa nước Đá Đen tại xã S, xã N thuộc huyện C; xã H, xã L thuộc thị xã B
- Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Võ Thị H2, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các yêu cầu khởi kiện:
- Hủy Quyết định số 4125/QĐ-UBND ngày 14/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C - Vũng Tàu về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1141/QĐ-UBND ngày 08/3/2021.
- Hủy Công văn số 366/UBND-VP ngày 01/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện C - Vũng Tàu về việc trả lời đơn khiếu nại của bà Võ Thị H19 tại ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Hủy Công văn số 2437/UBND-TNMT ngày 14/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C - Vũng Tàu về việc trả lời đơn kiến nghị của bà Võ Thị Huỳnh .
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C - Vũng Tàu ban hành quyết định thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho bà H20 tích đất 8.418,9m² theo giá đất tại thời điểm hiện tại.
- Án phí hành chính phúc thẩm: bà Võ Thị H50 chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000123 ngày 14/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 554/2024/HC-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất
- Số bản án: 554/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Thị H kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc “Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất”. Tuyên xử Căn cứ khoản 4 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H.
