| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - hạnh phúc | |
Bản án số: 553/2024/DS-PT Ngày: 21/11/2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 454/2024/TLPT-DS, ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 512/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1962;
- Bị đơn: Ông Võ Văn T1, sinh năm 1969 – có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Đồng Thị C, sinh năm 1966 – có mặt.
- - Bà Lê Thị N, sinh năm 1969 – có mặt.
Địa chỉ: Khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989 – có mặt.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 01-11-2023).
Địa chỉ: Khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Cùng địa chỉ: Khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn T là nguyên đơn; ông Võ Văn T1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T là ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Ông T và vợ là bà Đồng Thị C là chủ sử dụng thửa đất số 15, tờ bản đồ số 44, tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Ông, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên từ năm 2006. Nguồn gốc quyền sử dụng đất của ông T, bà C là từ ông bà của ông T để lại và ông T, bà C đã xây nhà ở trên đất từ năm 1984 đến nay.
Từ khi ông T, bà C sống trên đất đã có con đường đất ngang 3m, dài 13m tiếp giáp với thửa đất của ông T, bà C. Con đường này đã được thể hiện trên bản đồ địa chính. Đây là con đường gia đình ông T và gia đình ông T1 sử dụng để đi vào nhà.
Tháng 6-2023, gia đình ông T1 xây nhà và làm hàng rào chồng lấn lên con đường với diện tích ngang 3m, dài 10m. Ban đầu khi ông T1 đào móng ông T đã thấy lấn lên con đường, nhưng nghĩ tình làng nghĩa xóm và ông T1 cũng hứa sẽ chừa con đường cho gia đình ông T đi nên ông T không ngăn cản. Nhưng khi ông T1 xây nhà xong ông T1 lại muốn xây hàng rào bít luôn lối đi vào nhà ông T nên ông T có gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân phường G giải quyết. Ủy ban phường có đến làm việc với ông T1 thì ông T1 đồng ý chừa ra 3m để ông T làm cổng đi vào nhà. Tuy nhiên, sau khi ông T làm cổng vào nhà xong thì ông T1 không cho gia đình ông T đi trên con đường đi đó nữa và rào bít cổng lại.
Đây là con đường chính thuận tiện cho gia đình ông T sử dụng từ xưa đến nay. Từ khi ông T1 rào lại không cho gia đình ông T đi thì gia đình ông T phải đi nhờ con đường nhỏ trên đất của người khác, nhưng đường này không thể cho xe máy cày vào được nên từ năm 2023 đến nay gia đình ông T không thể canh tác trên đất được.
Theo đơn khởi kiện, ông T yêu cầu ông T1 trả lại con đường đi ngang 3m, dài 13m. Nhưng nay do ông T1 đã xây dựng nhà kiên cố trên phần lối đi nên ông T chỉ yêu cầu ông T1 trả lại lối đi từ hàng rào mà ông T1 xây dựng có diện tích ngang 3m, dài 8m. Phần hàng rào và mái che ông T1 xây dựng lấn lên con đường thì ông T1 tự tháo dỡ, ông T không bồi thường. Vì khi ông T1 xây dựng ông T đã báo Ủy ban phường không cho xây dựng nhưng ông T1 vẫn xây.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Văn T1 trình bày:
Nguồn gốc phần lối đi ông T tranh chấp là của ông nội ông T1 chừa ra để làm lối đi vào nhà đã gần 100 năm nay, ban đầu con đường đó chỉ dẫn vào đất của gia đình ông T1. Vợ chồng ông T về ở trên đất khoảng 40 năm nay, ban đầu gia đình ông T sử dụng lối đi khác bên hông nhà ông T để ra đường công cộng. Khoảng 20 năm nay gia đình ông T chuyển sang đi chung trên con đường của gia đình ông T1, do đường này rộng và thuận tiện hơn, trước khi đi ông T có hỏi ông T1 để xin cho xe máy cày vô thì ông T1 có đồng ý cho ông T đi.
Năm 2023, khi vợ chồng ông T1 đào móng xây nhà có mời ông T ra xem để xác định vợ chồng ông T1 xây đúng ranh, lúc đó ông T không có ý kiến gì. Gia đình ông T1 còn chủ động để cho ông T hơn 1m để xây cổng vào nhà. Đến khi vợ chồng ông T1 xây nhà, làm sân và dựng mái che xong thì ông T nhờ người xin vợ chồng ông T1 chừa ra 2,5m để xây cổng cho dễ vào nhà, vợ chồng ông T1 cũng đồng ý. Nhưng không hiểu sao sau đó cán bộ địa chính phường G báo cho ông T1 biết ông T đã nộp đơn yêu cầu Ủy ban phường giải quyết con đường đi, sau đó ông T tiếp tục năn nỉ ông T1 chừa ra 3m cho gia đình ông T xây cổng đi vào nhà, vợ chồng ông T1 vẫn đồng ý. Sau khi ông T xây cổng xong, Ủy ban phường tiếp tục mời ông T1 lên làm việc, tại buổi hòa giải ông T yêu cầu lấy toàn bộ con đường đi từ đường đỏ vào nhà ông T1 nên ông T1 không đồng ý và rào lại cổng nhà của ông T, không cho ông T đi chung trên con đường nữa.
Nay ông T1 không đồng ý với yêu cầu của ông T, vì con đường đi là đất của gia đình ông T1, ông T1 không đồng ý cho gia đình ông T đi nữa.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T thì phần hàng rào, mái che ông T1 sẽ tự tháo dỡ, không yêu cầu ông T bồi thường.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị C trình bày:
Bà là vợ của ông T, bà có cùng ý kiến và yêu cầu với ông T.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N trình bày:
Bà là vợ của ông T1, bà có cùng ý kiến và yêu cầu với ông T1.
Tại bản án số 144/2024/DS-ST ngày 04/9/2024 của TAND thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” đối với ông Võ Văn T1.
- Buộc ông Võ Văn T1 có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời 02 thanh sắt trên phần đất diện tích 7,3m² trong thửa DTO, tờ bản đồ số 42 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đi nơi khác. Có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đất ông T1 dài 3m;
- Phía Tây giáp đất ông T dài 3m;
- Phía Nam giáp đường đất dài 2,32m;
- Phía Bắc giáp đường đất dài 2,56m.
- Ông Huỳnh Văn T không có nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất lối đi và các tài sản trên đất cho ông Võ Văn T1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/9/2024 bị đơn ông Võ Văn T1 kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T vì con đường tranh chấp là của gia đình ông T1 không phải là đường đi công cộng.
Ngày 18/9/2024 nguyên đơn ông Huỳnh Văn T kháng cáo yêu cầu ông T1 trả lối đi ngang 3m x dài 8m (24m²) vì diện tích cấp sơ thẩm chấp nhận 7,3m² có diện tích nhỏ không đáp ứng được nhu cầu đi lại, chăn nuôi gia súc, sản xuất nông nghiệp, xây cất sửa san nhà cửa, thực tế quyền mà ông T được sử dụng là lối đi dài 13m giáp ranh.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn T và ông Võ Văn T1; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về quan hệ pháp luật: Ông T khởi kiện yêu cầu ông T1 trả lại phần lối đi có diện tích ngang 3m, dài 8m, tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Ông T1 không đồng ý vì cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của gia đình ông T1 chừa ra để làm lối đi vào nhà ông T1 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi”. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” là chưa chính xác. Cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho chính xác.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Ông T yêu cầu ông T1 trả lại phần lối đi có diện tích ngang 3m, dài 8m, tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Ông T1 không đồng ý vì cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của gia đình ông T1 chừa ra để làm lối đi vào nhà ông T1. Sau khi xét xử sơ thẩm ông T và ông T1 kháng cáo, không đồng ý bản án sơ thẩm.
- Xét yêu cầu kháng cáo của ông T, ông T1 thấy rằng:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp theo ông T1 trình bày là của gia đình ông T1 chừa ra để làm lối đi vào nhà. Ông T cho rằng không biết phần lối đi tranh chấp là của ai, nhưng lối đi đã có gần 100 năm nay và gia đình ông T đã sử dụng lối đi này từ năm 1984 đến nay. Nhưng phía ông T1 xây dựng công trình trên lối đi và rào bít cổng nhà ông T đã làm ảnh hưởng đến việc đi lại của gia đình ông T.
Theo Bản đồ 299 không thể hiện có đường đất là phần lối đi tranh chấp; theo Bản đồ 2000 thể hiện có con đường đất ngang 3m, đến Bản đồ 2005 con đường có chiều ngang tại vị trí ranh ở phía Nam đất của ông T là 2,32m. Hiện lối đi này chỉ dẫn vào nhà của ông T1 và ông T. Ông T không biết phần lối đi tranh chấp là của ai, ông T1 trình bày phần lối đi tranh chấp là đất của gia đình ông chừa ra để làm lối đi vào nhà. Qua xác minh những người dân sống gần phần đất tranh chấp thể hiện phần lối đi đã có từ hơn 40 năm và có nguồn gốc là đất của gia đình ông T1 chừa ra để làm lối đi vào nhà ông T1, ông T đi nhờ trên lối đi này, lối đi chỉ có gia đình ông T, ông T1 sử dụng, ngoài lối đi này, gia đình ông T còn có một lối đi cập hông nhà ông T, lối đi khoảng 2m. Từ đó, có cơ sở xác định phần lối đi tranh chấp có nguồn gốc là đất của ông T1.
Cấp sơ thẩm căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T vào ngày 17/8/2006 thể hiện 01 phần phía nam đất ông T giáp đường đất 03 mét, về phía đất ông T1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T1 ngày 6/10/2015 (cấp đổi) phần đất ông T1 chạy dài từ đường đất gồm các thửa 1004, 21, 17 phần phía Tây giáp đường đất để buộc ông T1 tháo dỡ, di dời 02 thanh sắt trên phần đất diện tích 7,3m² trong thửa DTO, tờ bản đồ số 42 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đi nơi khác là ảnh hưởng đến quyền lợi ích của ông T1. Bởi vì lối đi là phần đất của gia đình ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 dùng để đi vào nhà ông T1, khi cấp
đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có lối đi ông T1 không biết.
- Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1; không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; phúc thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật. Ông T là người cao tuổi được miễn án phí.
Ông T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn T
- - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn T1
- - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 163, 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 166, 170, 179, 203 Luật Đất đai; Khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T đối với ông Võ Văn T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi”. Lối đi tranh chấp có diện tích 7,3m², trong thửa DTO, tờ bản đồ số 42 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đi nơi khác. Có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đất ông T1 dài 3m;
- Phía Tây giáp đất ông T dài 3m;
- Phía Nam giáp đường đất dài 2,32m;
- Phía Bắc giáp đường đất dài 2,56m.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp: Ông Huỳnh Văn T chịu số tiền 1.300.000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng ghi nhận đã nộp và chi phí xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông T được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông T được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông Võ Văn T1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số: 0000319 ngày 12/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Dương Thúy Hằng |
Bản án số 553/2024/DS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi
- Số bản án: 553/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T yêu cầu T1 trả lại đường đi
