Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 553/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-7-2024

V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Ngọc

2. Bà Trương Thị Lệ Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 801/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 391/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 559/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Thạch Sa M, sinh năm 1951;

  • Địa chỉ: Số D Đường C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Bị đơn: Ông Lê Hoàng H, sinh năm 1951;

  • Địa chỉ: Số A đường N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • (Bà Thạch Sa M có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Lê Hoàng H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2023, trong bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Thạch Sa M trình bày:

Bà và ông Lê Hoàng H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 092/1983 ngày 20/10/1983 do U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Thời gian đầu hai bên chung sống hạnh phúc nhưng từ cuối năm 1995 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do lối sống không phù hợp giữa vợ chồng thường xuyên cãi vã về cách chăm sóc con, chi tiêu tiền bạc. Bà trình bày bà và ông H đã ly thân với nhau từ đầu năm 1996 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên bà M xin được ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Giữa bà và ông Lê Hoàng H có 01 con chung là Lê Hoàng S, sinh ngày 31/7/1986, do con chung đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà M xác nhận không có.

Về nợ chung: Bà M xác nhận không có.

Bị đơn ông Lê Hoàng H: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông Lê Hoàng H Thông báo thụ lý và Giấy triệu tập đương sự đến Tòa trình bày ý kiến cũng như tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 27/3/2024 và 25/4/2024. Tuy nhiên, bị đơn ông Lê Hoàng H vắng mặt không lý do, đồng thời cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình. Do đó Tòa án tiến hành lập biên bản về việc không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Nguyên đơn bà Thạch Sa M có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

  • - Bị đơn ông Lê Hoàng H đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa vào các ngày 12/6/2024 và 10/7/2024 nhưng ông H vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, Điều 171, Điều 173, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 248 và Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Bà Thạch Sa M và ông Lê Hoàng H chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên quan hệ giữa hai bên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa 2 người phát sinh mâu thuẫn, bà Thạch Sa M yêu cầu ly hôn, ông Lê Hoàng H không đến Tòa án cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Thạch Sa M. Hai bên có 01 con chung là Lê Hoàng S, sinh ngày 31/7/1986 đã trưởng thành nên không đề cập. Về tài sản chung và nợ chung bà Thạch Sa M xác nhận trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông Lê Hoàng H không có tài sản chung hay nợ chung. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, yêu cầu của bà M là có căn cứ để nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về căn cứ khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

    Căn cứ Đơn khởi kiện của bà Thạch Sa M, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về ly hôn. Do bị đơn ông Lê Hoàng H hiện đang cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại các khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Về thủ tục tố tụng:

    Nguyên đơn bà Thạch Sa M và bị đơn ông Lê Hoàng H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa vào các ngày 12/6/2024 và 10/7/2024 theo Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 220, khoản 3 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lê Hoàng H vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Tân Phú tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Thạch Sa M và bị đơn ông Lê Hoàng H.

  3. Về yêu cầu của các đương sự:

    • - Về quan hệ hôn nhân:

      Bà Thạch Sa M và ông Lê Hoàng H chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 092/1983 ngày 20/10/1983 tại Ủy ban nhân dân Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh nên quan hệ giữa bà M và ông H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa bà M và ông H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà M xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống về cách chăm sóc con, chi tiêu tiền bạc... Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên bất hòa, tranh cãi khiến đời sống hôn nhân căng thẳng, mệt mỏi, mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được. Hai bên đã sống ly thân từ năm 1996 đến nay. Thời gian ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống, hai bên không quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí chủ động tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nên bà M xin ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống. Phía ông H, mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tòa để trình bày ý kiến, tham gia các phiên hòa giải, xét xử nhưng ông H đều không đến tòa để hòa giải mâu thuẫn vợ chồng và tìm cách hàn gắn tình cảm, cho thấy ông H đã không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.

      Xét thấy mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ vợ chồng giữa bà M và ông H là có thật, hai bên đã sống ly thân từ năm 1996 đến nay, không đảm bảo tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, mâu thuẫn hôn nhân giữa bà M và ông H là trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.

    • - Về con chung:

      Bà Thạch Sa M xác nhận bà và ông Lê Hoàng H có 01 con chung là Lê Hoàng S, sinh ngày 31/7/1986. Do con chung đã trưởng thành nên bà không có yêu cầu.

    • - Về tài sản chung, nợ chung:

      Bà Thạch Sa M xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nguyên đơn bà Thạch Sa M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được chấp nhận. Tuy nhiên bà Thạch Sa M sinh năm 1951 căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà M thuộc trường hợp được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 233, Điều 273 và Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ:

  • - Khoản 2 Điều 19, Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Sa M.

  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Sa M được ly hôn với ông Lê Hoàng H.

    Quan hệ hôn nhân của bà M và ông H chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 092/1983 ngày 20/10/1983 do U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà M và ông H không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: Con chung là Lê Hoàng S, sinh ngày 31/7/1986 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà M xác nhận không có tài sản chung hay nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

  5. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Thạch Sa M được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  6. Quyền kháng cáo:

    Bà Thạch Sa M và ông Lê Hoàng H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc niêm yết bản sao án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;

  • - VKSND quận Tân Phú;

  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;

  • - UBND Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh;

  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (Đào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 553/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về xin ly hôn

  • Số bản án: 553/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger