Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 553/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-5-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết M - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm: 1982 (có mặt).

Địa chỉ thường trú: 18B, khu phố D, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1981 (có mặt).

Địa chỉ thường trú: E, khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 30/12/2024 và theo bản nội dung bản tự khai thì lời trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N như sau:

Vào năm 2006, ông N và bà Trần Thị T quen biết, yêu thương nhau, chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/5/2007 (số 95/2007). Khi kết hôn gia đình hai bên không có ai ngăn cản, cấm đoán, không bên nào cưỡng ép kết hôn, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2015, ông N và bà T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân cho đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách và suy nghĩ không hợp nhau, cuộc sống không hạnh phúc. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông N yêu cầu ly hôn với bà T.

Về con chung: 01 cháu tên Nguyễn Trần Minh T1, sinh ngày 28/5/2008.

Ông N yêu cầu bà T nuôi cháu T1. Ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 8.000.000 (tám triệu) đồng, thi hành từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T1 tròn 18 tuổi.

Tài sản chung, nợ chung: không có.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của bị đơn là bà Trần Thị T như sau:

Về lời trình bày của ông Nguyễn Thanh N về thời gian kết hôn, địa điểm và quá trình chung sống và con chung là đúng. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, bà T trình bày là những mâu thuẫn bình thường trong cuộc sống, chưa đến mức ly hôn. Nay, ông N yêu cầu ly hôn, bà T không đồng ý.

Về con chung: 01 cháu tên Nguyễn Trần Minh T1, sinh ngày 28/5/2008

Bà T đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 8.000.000 (tám triệu) đồng, thi hành từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T1 tròn 18 tuổi.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa:

- Ông N vẫn giữ nguyên yêu cầu: ly hôn với bà T; con chung giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 8.000.000 đồng; tài sản chung, nợ chung: không có.

- Bà T trình bày: bà T không đồng ý ly hôn với ông N, do cha mẹ ông N đã hứa nếu bà T và ông N vẫn tiếp tục chung sống thì sẽ cho con bà T căn nhà bà T đang sinh sống. Bà T yêu cầu ông N sau khi con tròn 18 tuổi thì ly hôn để con đủ tuổi nhận căn nhà. Bà T trình bày tính cách của ông N ích kỷ, không chăm lo cho gia đình nên bà T không tin tưởng là nếu bây giờ ly hôn thì ông N sẽ cho con căn nhà. Bà T đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đồng ý với mức cấp dưỡng mỗi tháng 8.000.000 đồng; tài sản chung, nợ chung: không có.

Đại diện Viện kiểm sát huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về: về thẩm quyền thụ lý vụ án, về xác định tư cách tố tụng, về thu thập chứng cứ, về thủ tục hòa giải, về thời hạn chuẩn bị xét xử, về thời gian gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, về thủ tục cấp tống đạt cho đương sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Thanh N và bà Trần Thị T là ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ tại E, khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông N và bà T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/5/2007 (số 95/2007) nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về hôn nhân: Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ông N và bà T có thời gian sống chung từ năm 2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2015, ông N và bà T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân cho đến nay. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách và suy nghĩ không hợp nhau, cuộc sống không hạnh phúc. Bà T trình bày những mâu thuẫn vợ chồng chỉ là những cãi vã bình thường, không có gì lớn; chưa đến mức để ly hôn; vì vậy bà T không đồng ý ly hôn

Hội đồng xét xử xét thấy: ông N và bà T đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay chứng tỏ đời sống chung vợ chồng của ông N và bà T đang ở trong tình trạng trầm trọng. Bà T tuy trình bày mâu thuẫn vợ chồng không lớn nhưng trong suốt quá trình ly thân lại không có phương hướng gì để đoàn tụ gia đình. Tại phiên tòa, bà T cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng là có; lý do chính để bà T không đồng ý ly hôn là để con trai đủ tuổi nhận căn nhà do cha mẹ ông N. Như vậy, chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của ông N và bà T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc ông N yêu cầu ly hôn với bà T là có cơ sở chấp nhận. Đối với yêu cầu của bà T không đồng ý ly hôn là để con trưởng thành, đủ tuổi nhận căn nhà của cha mẹ ông N cho là không có cơ sở xem xét.

[3] Về nuôi con chung: 01 cháu tên Nguyễn Trần Minh T1, sinh ngày 28/5/2008.

Ông N yêu cầu bà T trực tiếp nuôi cháu T1, bà T đồng ý. Tại bản tự khai ngày 10/4/2025, cháu T1 cũng thể hiện nguyện vọng muốn sống chung với bà T. Vì vậy, hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này của ông N và bà T.

Về đóng góp nuôi con: Ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 8.000.000 (tám triệu) đồng; bà T đồng ý với mức cấp dưỡng này nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này của ông N và bà T.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: ông N và bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 21; 28; 35; 39; 48; 63; 184; 186; 188; 203; 205; 227; 228; 235; 244; 264; 266; 271 và 273 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 56, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào các Điều 8, 9, 10 và 27 cùng các danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Thanh N và bà Trần Thị T.
  2. Về nuôi con chung: 01 cháu tên Nguyễn Trần Minh T1, sinh ngày 28/5/2008. Giao con chung tên Nguyễn Trần Minh T1 cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Hàng tháng ông Nguyễn Thanh N cấp dưỡng nuôi con chung là 8.000.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng cho bà Trần Thị T, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tên Nguyễn Trần Minh T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con; không bên nào được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Kể từ ngày bà Trần Thị T có đơn yêu cầu thi hành án quyết định, nếu ông Nguyễn Thanh N vẫn chưa thực hiện việc cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
  2. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông Nguyễn Thanh N chịu, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Thanh N đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0047946 ngày 16/01/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Ông Nguyễn Thanh N phải nộp thêm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, thi hành tại chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  4. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM
  • - VKSND H.HM;
  • - Chi Cục THADS H.HM;
  • - UBND phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 553/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 553/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger