Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 553/2024/DS-PT

Ngày: 22 - 7 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất;

Công nhận quyền sử dụng đất; Hủy

giấy thỏa thuận mua chung đất và cho

mượn đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 785/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Công nhận quyền sử dụng đất; Hủy giấy thỏa thuận mua chung đất và cho mượn đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2178/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1965. Địa chỉ: C Rua Aistide B Lssy-Les-Moulineux F. Trú tại: số G tổ B, đường L, khu P, thị trấn L, tỉnh Đồng Nai – Vắng mặt
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Minh T: Bà Lê Thị Tuyết T1, sinh năm 1969. Địa chỉ: số I, đường Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 08/04/2021) – Có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Lê Minh T2, sinh năm 1969. Địa chỉ: số G tổ B, đường L, Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai – Có mặt.
  4. Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Lê Minh T2: Ông Nguyễn Bảo L, sinh năm 1952. Địa chỉ: 3 L, phường P, quận I, thành phố Hồ Chí Minh. (theo văn bản ủy quyền ngày 24/3/2022) – Vắng mặt

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai – Vắng mặt.
  2. Ông Lê Văn T3, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ B, Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai – Có mặt.
  3. Bà Lê Thị Minh T4, sinh năm 1971. Địa chỉ: Tổ B, Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai – Có mặt.
  4. Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1933. Địa chỉ: Tổ B, Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai – Có mặt.
  5. Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ A, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai – Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  6. Bà Lê Thị Tuyết T1, sinh năm 1969. Địa chỉ: số I, đường Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương – Có mặt.

4. Người kháng cáo: bị đơn ông Lê Minh T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Minh T là bà Lê Thị Tuyết T1 trình bày:

Năm 2010, bà T và em trai là ông Lê Minh T2 có nhận chuyển nhượng chung nhau một lô đất diện tích 2.136m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại tổ G, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, mỗi người ½ diện tích đất với giá 640.000.000đ mỗi bên là 320.000.000đ.

Thời điểm đó, ông Lê Minh T2 có nhu cầu sử dụng toàn bộ lô đất có tổng diện tích đã mua chung để mở xưởng cưa. Vì là chị em ruột, bà T đồng ý cho ông T2 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 483288 ngày 19/01/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L. Để làm bằng chứng, ngày 21/4/2013 vợ chồng em trai ông Lê Minh T2 và bà Nguyễn Thị Kim H có lập Giấy thỏa thuận cùng mua đất và cho mượn đất cùng bà, Giấy thỏa thuận này có mẹ, anh trai và các em gái của bà và ông T2 cùng ký tên làm chứng.

Năm 2016, ông T2 làm thủ tục chuyển đổi 500m² đất lên thổ cư và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới có diện tích 2.230m² tại thửa số 8 tờ bản đồ số 14 xã L, huyện L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số CD 646939 ngày 11/4/2016. Năm 2020, Bà T có nhu cầu sử dụng phần đất của mình, đã rất nhiều lần bà T yêu cầu vợ chồng ông Lê Minh T2 trả lại lại cho bà ½ diện tích đất đã mua chung và cho ông T2 mượn, nhưng ông T2, bà H không trả. Hành vi này, đã gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của bà T.

Nay bà T khởi kiện đề nghị Tòa án xét xử buộc vợ chồng ông Lê Minh T2Nguyễn Thị Kim H phải trả lại cho bà T ½ diện tích là 1.115m² (Một ngàn

một trăm mười lăm mét vuông đất) trong tổng diện tích 2.230m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD646939 ngày 11/4/2016 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tuyên cho bà T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Riêng tài sản trên đất bà không yêu cầu giải quyết.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Bảo L trình bày:

Vào tháng 10/2010, ông Lê Minh T2 (ông T2) và ông Nguyễn Thế D có thỏa thuận chuyển nhượng một lô đất có diện tích 2.230m², thuộc thửa số 8, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại tổ G, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai với giá là 640.000.000VNĐ (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng), phần đất này là do ông D mua của người khác nhưng chưa sang tên và bán lại cho ông T2. Khi chuyển nhượng, ông D cam kết chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ các thủ tục sang tên ông T2 cho đến khi hoàn tất. Số tiền mua bán đất này được thỏa thuận thanh toán làm 02 đợt :

  • Đợt 01 là 600.000.000VNĐ (Sáu trăm triệu đồng) và ông D có trách nhiệm làm thủ tục tách thửa phần đất và xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T2 trên phần đất chuyển nhượng.
  • - Đợt 2 là vào cuối tháng 01/2011, thanh toán 40.000.000 VNĐ (Bốn mươi triệu đồng) còn lại khi giấy tờ sang tên ông T2 hoàn tất và ông D cũng đã bàn giao đất cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho ông T2 quản lý sử dụng ngay khi nhận số tiền còn lại này. Việc chuyển nhượng phần đất là do ông T2 đã trực tiếp đến gặp ông D để thương lượng thỏa thuận và không hề thêm ai khác, việc thanh toán số tiền chuyển nhượng đất cũng là do ông T2 thanh toán cho ông D; một mình ông T2 nhận đất được giao từ ông D. Tại thời điểm này, bà T không có liên quan gì nên không có tham gia.

Đầu tháng 02/2011, do nhu cầu sản xuất nên ông T2 đã tiến hành san lấp mặt bằng để xây dựng nhà xưởng, vì không đủ tiền đầu tư lưới điện và trạm điện 03 pha 160 KVA nên ông T2 đã hỏi mượn mẹ của ông (bà Huỳnh Thị Q) số tiền 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng) để thực hiện và có hứa khi nào ổn định thì trả lại.

Khoảng tháng 04/2013, bà Lê Thị Minh T trước khi đi xuất cảnh sang Pháp để định cư với chồng, bà T đã nói với bà Q và đến gặp ông T2 đề nghị góp tiền mua lại phân nửa lô đất của ông T2 với giá 320.000.000 VNĐ (Ba trăm hai mươi hai triệu đồng), số tiền hùn mua đất này sẽ được bà T thanh toán cho ông T2 để ông T2 trả lại số tiền đã mượn của mẹ ông. Sau khi thỏa thuận, bà T đã chủ động soạn 01 “Giấy thỏa thuận cùng mua bán đất và cho mượn đất" với nội dung là “Tại thời điểm năm 2010. Bên A và Bên B, mỗi bên chung nhau 320.000.000 VNĐ để mua đất và cho ông T2 mượn đất để sử dụng. Nhưng thực tế số tiền 320.000.000 VNĐ ghi trong Giấy thỏa thuận bà T không đưa mà nói rằng khi nào qua Pháp, chồng của bà T sẽ chuyển tiền về cho ông T2 để ông T2 trả cho mẹ ông. Tuy nhiên, từ khi ký thỏa thuận đến nay bà T hoàn toàn không

trả cho ông T2 đồng nào như đã hứa nên ông T2 vẫn chưa hoàn lại số tiền đã mượn cho bà Q sự việc kéo dài tới nay. Từ khi nhận đất từ ông D, ông T2 là người trực tiếp sử dụng đất, ông T2 đã chuyển mục đích sử dụng đất 500m² từ đất CLN (cây lâu năm) thành đất ONT (ở nông thôn), san lấp, nâng nền, xây hàng rào, xây dựng nhà, nhà xưởng, nhà trọ, lưới điện và trạm điện 03 pha 160 KVA và các công trình khác tọa lạc trên đất. Sự việc đã qua từ lâu, ông T2 nghĩ rằng do bà T định cư bên Pháp không còn nhu cầu sử dụng đất nên bà không thanh toán tiền cho ông T2 như đã hứa, còn thỏa thuận đã ký kết giữa hai bên do bà T không thực hiện nên ông T2 cũng nghĩ là thôi vì là chị em ruột nên không đến mức phải báo hủy bỏ nhưng không ngờ bà T lại dùng giấy thỏa thuận đã ký mà chính bà T là người không thực hiện để tranh chấp phần đất với ông T2. Nay, ông có ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

  1. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T: Việc bà Lê Thị Minh T nêu rằng bà đã cùng ông T2 mua đất của ông Nguyễn Thế D và bà Nguyễn Thị Cẩm H1 (vợ ông D) theo Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 28/06/2021 là hoàn toàn gian dối vì việc thỏa thuận mua bán đất là do ông T2 gặp và thương lượng với ông D, trực tiếp thanh toán cho ông D và nhận đất từ ông D, hoàn toàn không liên quan gì đến bà T hay bất kỳ ai. Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu ông Lê Minh T2 trả lại ½ diện tích đất nhận chuyển nhượng chung, cho bà T được liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục tách và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Ông yêu cầu bà T phải cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng từ chứng minh bà đã chuyển tiền cho ông T2 để thanh toán việc hùn hạp mua đất hoặc chứng từ để chứng minh số tiền mà bà đã thanh toán cho ông T2 khi thỏa thuận mua lại đất của ông T2 theo Giấy thỏa thuận cùng mua chung đất và cho mượn đất lập ngày 21/04/2013.

  1. Đối với yêu cầu phản tố của ông T2: Vì bà Lê Thị Minh T đã thỏa thuận nhưng không thực hiện việc thanh toán số tiền 320.000.000 đồng đưa cho ông T2 nên ông T2 yêu cầu Tòa tuyên hủy Giấy thỏa thuận cùng mua chung đất và cho mượn đất lập ngày 21/04/2013 giữa bà T và ông T2.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

+ Bà Lê Thị Minh T4: Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh T. Đồng thời làm chứng và xác nhận cho lời khai của bà Lê Thị Minh T và xác nhận chữ ký của bà trong “Giấy thỏa thuận cùng mua chung đất và cho mượn đất” giữa ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị Kim H với bà Lê Thị Minh T là đúng sự thật, bà chính là người chứng kiến các lần bà T giao tiền cho ông T2 vào năm 2010. Bà kính mong Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, lấy lại quyền lợi cho bà T. Ngoài ra bà không có tranh chấp hay yêu cầu giải quyết nào khác trong vụ án.

+ Ông Lê Văn T3: ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh T. Đồng thời làm chứng cho lời khai của bà Lê Thị Minh T và xác nhận chữ ký của ông trong “Giấy thỏa thuận cùng mua đất và cho mượn đất” giữa ông Lê Minh

T2, bà Nguyễn Thị Kim H với bà Lê Thị Minh T là đúng sự thật, việc lập giấy thỏa thuận mua chung đất và cho mượn đất do chính ông T2 lập và kêu ông là người chứng kiến ký tên để làm chứng bảo vệ quyền lợi cho bà T. Mong Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, lấy lại quyền lợi cho bà T. Ngoài ra ông không có tranh chấp hay yêu cầu giải quyết nào khác trong vụ án.

+ Bà Lê Thị Tuyết T1: Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh T. Đồng thời làm chứng và xác nhận cho lời khai của bà Lê Thị Minh T và xác nhận chữ ký của bà trong “Giấy thỏa thuận cùng mua chung đất và cho mượn đất” giữa ông Lê Minh T2, bà Nguyễn Thị Kim H với bà Lê Thị Minh T là đúng sự thật, việc lập giấy thỏa thuận mua chung đất và cho mượn đất do chính ông T2 lập và kêu bà là người chứng kiến ký tên để làm chứng bảo vệ quyền lợi cho bà T. Bà kính mong Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, lấy lại quyền lợi cho bà T. Ngoài ra bà không có tranh chấp hay yêu cầu giải quyết nào khác trong vụ án.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:

Căn cứ Điều 3, Điều 5, Điều 26, khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 192, 195, 221, 222, 215, 226, 256 Bộ luật Dân sự 2005, các Điều 688, 166, 221, 332 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 95, 106, 167, 168, 169, 202, 203 Luật đất đai 2013.

Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Công nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn bà Lê Thị Minh T đối với bị đơn ông Lê Minh T2.
    1. Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 1.115m² (trong tổng diện tích 2.230m² ) tại ½ thửa đất số 8, tờ bản đồ số 14, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CD 646939 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 11/4/2016 cho ông Lê Minh T2. Được giới hạn tại các điểm 3, 4, 5, 6a, 3, 4 trong đó có 236,2m² đất ODT, 554,3m² đất trồng cây lâu năm 309m² đất quy hoạch phát triển hạ tầng tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 10163/2022 ngày 21/9/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cho bà Lê Thị Minh T.
    2. Buộc ông Lê Minh T2 và bà Nguyễn Thị Kim H phải trả cho bà Lê Thị Minh T quyền sử dụng đất có diện tích 1.115m² (trong tổng diện tích 2.230m²) tại ½ thửa đất số 8, tờ bản đồ số 14 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CD 646939 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 11/4/2016 cho ông Lê Minh T2. Được giới hạn tại các điểm 3, 4, 5, 6a, 3, 4 trong đó có 236,2m² đất ODT, 554,3m² đất trồng cây lâu

năm 309m² đất quy hoạch phát triển hạ tầng tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 10163/2022 ngày 21/9/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.

  1. Lê Thị Minh T được quyền liên hệ với cơ quan tổ chức có thẩm quyền để làm các thủ tục liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ½ diện tích đất thửa đất số 8, tờ bản đồ số 14 được Tòa án công nhận quyền sử dụng.
  2. Ghi nhận việc bà Lê Thị Minh T hỗ trợ cho lại ông Lê Minh T2 ½ số tiền sử dụng đất khi ông T2 thực hiện nghĩa vụ chuyển mục đích sử dụng 500m² vào năm 2016 là 44.200.000đ (bốn mươi bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
  3. Về toàn bộ tài sản trên đất không xem xét giải quyết.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Minh T2 đối với bà Lê Thị Minh T về việc “Hủy giấy thỏa thuận mua chung đất và cho mượn đất” được lập ngày 21/4/2013.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 07/6/2023, bị đơn ông Lê Minh T2 có đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
  • - Ngày 07/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H có đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:

Chứng cứ nguyên đơn và bị đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm là tờ thỏa thuận có sự khác biệt và mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1]. Về thu thập chứng cứ:

Trong tranh chấp này, bà Lê Thị Minh T khởi kiện yêu cầu công nhận đối với ½ thửa đất số 8, tờ bản đồ số 14 xã L, huyện L. Bị đơn ông Lê Minh T2 có phản tố yêu cầu hủy giấy thỏa thuận mua đất chung và cho mượn đất.

[1.1] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, phía nguyên đơn bà T đã cung cấp tài liệu cho Tòa án cấp sơ thẩm là giấy thỏa thuận mua chung đất và cho mượn đất được lập ngày 21/4/2013, thể hiện giữa vợ chồng ông Lê Minh T2Nguyễn Thị Kim H có lập Giấy thỏa thuận cùng mua chung đất với bà T,

sau khi mua chung đất bà T cho ông T2, bà H cho mượn lại đất để làm xưởng cưa, thể hiện nội dung cụ thể như sau “Chúng tôi là chị em với nhau thống nhất mua chung một mảnh đất có diện tích 2.136m² (diện tích này đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất – Tôi Lê Minh T2 đang đứng chủ quyền) hiện tọa lạc tại tổ G khu A xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, số tiền 640.000.000đ tại thời điểm năm 2010 mỗi bên chung nhau 320.000.000 VNĐ để mua đất. Hiện trạng đất thuộc đất đang trồng tràm, đất trồng cây lâu năm...Bà Lê Thị Minh T (chị tôi) đồng ý cho vợ chồng tôi mượn ½ diện tích đất trên diện tích đất chung (½ của 2.136m² của chị tôi để vợ chồng tôi xây dựng xưởng cưa với thời gian dài, khi chị T cần chúng tôi có nghĩa vụ thu xếp trả lại...”. Tại giấy thỏa thuận cùng nhau mua chung đất và cho mượn đất nói trên có bà Q là mẹ ông T2 và bà T, anh trai, các em gái của ông T2 và bà H vợ ông T2 cùng ký tên làm chứng, giấy thỏa thuận do ông T2 lập.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, qua xem xét chứng cứ là Tờ thỏa thuận mua chung đất giữa nguyên đơn và bị đơn thấy rằng: Phía bị đơn cung cấp chứng cứ mới, đó cũng là Tờ thỏa thuận về việc mua chung đất. Về nội dung thỏa thuận và hình thức văn bản của 02 tài liệu này là hoàn toàn giống nhau; tuy nhiên, qua xem xét tài liệu do phía bị đơn cung cấp, so sánh với tài liệu mà phía nguyên đơn cung cấp theo yêu cầu khởi kiện thì có sự khác nhau về số lượng chữ ký của các đương sự đang là người làm chứng và người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể:

Tại tài liệu do phía nguyên đơn cung cấp thì có đủ chữ ký của ông T2, bà H, bà Q, ông T3, bà T4, bà T1; những tài liệu do phía bị đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm thì không có chữ ký của bà H, bà Q, bà T4, ông T3, bà T1.

Đây là vấn đề cần được làm rõ mới đủ cơ sở để giải quyết tranh chấp.

[1.2] Phía bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, và để chứng minh cho yêu cầu của mình, tại cấp phúc thẩm, ông T2 đã cung cấp “Vi bằng” được lập vào lúc 11 giờ 15 phút ngày 16/12/2022 tại Trụ sở Văn phòng T5, đường L, ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nội dung Vi bằng thể hiện việc chứng kiến và ghi nhận lời trình bày của các đương sự là ông Lê Minh T2 và bà Huỳnh Thị Q (bà Q là mẹ ruột của nguyên đơn và bị đơn). Theo đó, nội dung đã được thể hiện cụ thể như sau:

Ông T2: “....con muốn mẹ xác nhận về nội dung tranh chấp đất giữa con và chị Lê Thị Minh T để con cung cấp cho Tòa án.

Bà Q nói: “Sự việc đó là tôi có biết. Cô T thấy tôi đưa cho ông Lê Minh T2 ba trăm hai mươi triệu thì bà T nói để bả sẽ mua nửa phần đất. Bả yêu cầu vợ chồng Lê Minh T2 viết giấy cho bả về bên đó nói chồng bả đưa tiền ra bả đem về. Nhưng mà bả trả lời điện thoại nói chồng bả nói đất sâu không mua. Giấy thì bả cũng giữ luôn mà tiền cũng không có.”

Ông T2: Mẹ có nhớ là hồi đó là chỉ yêu cầu con ký giấy thỏa thuận mua bán đất và cho mượn để chị đem về Pháp, chỉ nói chuyện chỉ để chồng chỉ

chuyển tiền về cho con, nhưng mà đến ngày hôm nay vẫn chưa chuyển tiền được, mẹ thấy có đúng không.”

Bà Q: Đúng.

Ông T2: “Cách đó mấy tháng sau, chị T có gọi điện về, con có hỏi chị ấy có mua đất không thì chị nói không mua đất nữa, chồng chị không đồng ý mua đất nữa cho nên là chị không chuyển tiền về để con trả tiền cho mẹ được, hôm nay con vẫn còn thiếu tiền của mẹ”.

Bà Q: Thì đúng như vậy đó.”

Như vậy, đây là mâu thuẫn cần phải đối chất làm rõ làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp.

Đồng thời, phía bị đơn ông T2 trình bày cho rằng: diện tích đất 2.230m² tại thửa 8, tờ bản đồ số 14 xã L, huyện L do ông T2 nhận chuyển nhượng của ông D để làm xưởng cưa, do không có tiền trả hết nên đến năm 2010 ông T2 hỏi vay của mẹ là bà Q 320.000.000đ để trả, bà T (chị của ông T2) thấy ông hỏi vay tiền mẹ mới nói ông rằng cho bà mua cùng sau khi bà qua Pháp gửi tiền về để ông trả cho mẹ ông, nhưng từ đó cho đến nay bà T không trả nên ông vẫn còn nợ mẹ ông. Do vậy, diện tích đất nói trên là của ông chứ không phải của bà T ½. Việc ông nhận chuyển nhượng đất chỉ có một mình ông thỏa thuận với ông D (có giấy cam kết của ông D lập vào năm 2022).

[1.3] Về diện tích đất tranh chấp:

Diện tích đất tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo tờ thỏa thuận là 2.136 m² theo đúng diện tích đất ghi nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp. Quá trình giải quyết đã tiến hành đo vẽ 02 lần, nhưng diện tích đất có sự khác nhau và thể hiện là 2.230m². Tuy nhiên, quá trình giải quyết cấp sơ thẩm chưa làm rõ nguyên nhân của sự chênh lệch này là do đâu, các hộ giáp ranh có đất liền kề có ý kiến hay tranh chấp gì không. Từ đó, việc cấp sơ thẩm xác định diện tích đất tranh chấp là 2.230 m² là chưa đủ cơ sở.

[2] Về nội dung giải quyết tranh chấp:

Chứng cứ đã thu thập thể hiện: Sau khi các bên thỏa thuận mua chung đất và được bà T cho mượn diện tích đất mua chung, ông T2 đã tiến hành đầu tư san lấp mặt bằng, nâng nền, xây dựng một căn nhà xưởng có kết cấu cột sắt, xà gồ, vỉ kèo sát, mái tôn, nhà văn phòng có kết cấu tường gạch, cột gạch, xây tường rào bằng gạch, cửa vào khu đất có 2 trụ bê tông cốt thép 400 x 400mm cao 2,5m, ốp gạch ceramic, cửa cổng khung sắt bọc tôn lùa có bánh ray, chất lượng còn lại hiện 70%. Một dãy phòng trọ có kết cấu, cột gạch, tường gạch dày 100mm, sơn nước, nền xi măng, lát gạch C, cửa đi và cửa sổ phòng trọ bằng khung sắt bọc tôn... Căn cứ vào hai bản vẽ hiện trạng khu đất 10163/2022 ngày 21/9/2022 và bản vẽ số 938/2023 ngày 08/3/2023, toàn bộ nhà xưởng nằm trên phần đất thổ cư và một phần diện tích đất trồng cây lâu năm.

Quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc phía bị đơn phải trả lại ½ diện tích đất, nhưng

không xem xét, giải quyết đối với công sức đầu tư của bị đơn, cũng như không giải quyết đối với các tài sản có trên đất là chưa toàn diện, triệt để; ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và khó khăn cho việc thi hành án sau này.

[3] Tóm lại: Do trong quá trình giải quyết tranh chấp này, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, có nhiều tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Những phát sinh này đã ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp toàn diện, triệt để mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, vì vậy cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5] Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi hợp pháp cho nguyên đơn là không phù hợp, nên không được chấp nhận.

[6] Do hủy án sơ thẩm, vì vậy phía bị đơn và người có quyền, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí phúc thẩm.

[7] Các nội dung khác sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3, Điều 308; Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Minh T2 và người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H.

Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

Hoàn trả cho ông Lê Minh T2 và bà Nguyễn Thị Kim H, mỗi đương sự số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu số 0000860 ngày 16/6/2023; số 000972 ngày 16/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: DS, VP, 17b NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 553/2024/DS-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất; hủy giấy thỏa thuận mua chung đất và cho mượn đất

  • Số bản án: 553/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Công nhận quyền sử dụng đất; Hủy giấy thỏa thuận mua chung đất và cho mượn đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Minh Tuyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger