Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 552/2023/HS-ST

Ngày: 29 - 12 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 529/2023/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 579/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Đặng Thị H, sinh năm: 1979, tại Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A D, Tổ D, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Đặng Hữu H1 (©) và bà Nguyễn Thị T (©); bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 chị em; chồng: Trần Xuân H2, sinh năm 1970 và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Châu Đức N, sinh năm 1994.

Địa chỉ: 1 L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Anh Đăng H3.

Địa chỉ: B Đường D, Khu phố F, phường H, , thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/3/2023, anh Châu Đức N cùng vợ là chị Lê Nhật Thúy V đến cửa hàng “Hoàng Hà M” tại số C V, phường B, thành phố T để tham quan mua sắm. Trong lúc xem điện thoại, anh N có để điện thoại di động Iphone 11 màu đen trên bàn trưng bày rồi đến bàn trưng bày bên cạnh tiếp tục xem. Trong lúc này, Đặng Thị H đang đứng chờ đến lượt mình làm sim điện thoại nên có đi đến các bàn trưng bày để xem thì thấy có một chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu đen của anh N, không có người trông coi nên H nảy sinh ý định lấy trộm để sử dụng. H lét lút lấy điện thoại di động Iphone 11 màu đen cầm trên tay, rồi ra ngoài lấy xe đi về nhà cất giữ. Khi phát hiện mất điện thoại, anh N đến bàn trưng bày để tìm nhưng không thấy điện thoại.

Đến khoảng ngày 10/4/2023, H đem điện thoại di động Iphone 11 màu đen đến cửa hàng “App Store” tại số A P, phường L, thành phố T. Tại đây, H nói với nhân viên là nhặt được điện thoại Iphone 11 và bán với giá 1.500.000 đồng, sau đó tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua điện thoại di động Iphone 11 từ H, nhân viên của cửa hàng "App Store” là anh Phạm Anh Đăng H3 đã tháo điện thoại ra, lấy linh kiện thay cho điện thoại của khách vãng lai. Ngày 15/5/2023, anh N đến Công an phường B, thành phố T trình báo sự việc. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T đưa Đặng Thị H về trụ sở làm việc.

Kết luận định giá tài sản số 191-KV3/KLÐG-HĐĐGTS ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen 128GB có trị giá là 6.533.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Đặng Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen 128 GB (không thu hồi được);
  • 01 cạp tóc màu cam;
  • 01 áo kiểu ngắn tay màu hồng chấm bi trắng;
  • 01 quần ngắn màu đen;
  • 01 đôi giày màu đen;
  • 01 USB chứa video ghi nhận nội dung vụ việc (lưu kèm theo hồ sơ).

Về trách nhiệm dân sự: Đặng Thị H đã bồi thường cho anh N số tiền 20.000.000 đồng, anh N không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 485/CT-VKSTPTĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đặng Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo lo cho con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, hình ảnh camera, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào 19 giờ 00 phút ngày 29/3/2023, tại cửa hàng “Hoàng Hà M” tại số C V, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đặng Thị H đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen 128GB, trị giá 6.533.000 đồng của anh Châu Đức N thì bị phát hiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam nên đã lợi dụng sự sơ hở rồi lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 6.533.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 6.533.000 đồng và không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được bị hại làm đơn bãi nại; cha, mẹ của bị cáo đều là người có công với cách mạng, được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy động cơ phạm tội của bị cáo là do tham lam nhất thời, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 cạp tóc màu cam; 01 áo kiểu ngắn tay màu hồng chấm bi trắng; 01 quần ngắn màu đen; 01 đôi giày màu đen là đồ dùng cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Đặng Thị H: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

    - Trả lại cho bị cáo: 01 cạp tóc màu cam; 01 áo kiểu ngắn tay màu hồng chấm bi trắng; 01 quần ngắn màu đen; 01 đôi giày màu đen.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 285/QĐ-VKSTPTĐ ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/044C ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    - Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 552/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 552/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger