Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 552/2024/HS-ST

Ngày: 29-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Võ Văn Lợi

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 519/2024/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 8735/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:

Â; Sinh ngày 15/7/1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Âu Văn V, sinh năm 1953 và bà Đinh Thị Thu C, sinh năm 1950; Tiền án, tiền sự: không. Bắt phạm tội quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Quốc V1, sinh năm 1959

Địa chỉ: E P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, Công an phường T, thành phố T tuần tra công tác đảm bảo an ninh trật tự, khi đến trước địa chỉ A T, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố H là quán cà phê thì phát hiện tại đây có 01 xe mô tô hiệu Nouvo biển số 51R6-2419 đậu trước quán có biểu hiện nghi vấn, Công an phường đến xác minh nguồn gốc xe thì Âu Đình T đang uống cà phê bên trong chạy ra nói xe của mình và khai nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời T lấy trong túi quần phía sau, bên trái đang mặc ra 01 gói nylong bên trong có chứa tinh thể không màu (T khai nhận là ma túy), Công an phường T đã đưa T cùng tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Âu Đình T.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) gói nylong bên trong có một gói nylong màu đen chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1670 gram.
  • - 01 (một) Điện thoại di động hiệu N1 G10 (màu đen)
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Nouvo biển số 51R6-2419.

Tại cơ quan Công an Âu Đình T khai nhận: T sử dụng ma túy từ năm 2023 đến khi bị bắt nhưng không thường xuyên. Khoảng tháng 01/2024, do cần mua ma túy đá để sử dụng thì T có hỏi người bạn tên C1 (không rõ lai lịch) quen biết ngoài xã hội và được C1 chỉ chỗ mua ma túy đá của T1 tại hẻm đối diện chợ B. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, T một mình điều khiển xe mô tô hiệu Nouvo, biển số 51R6 – 2419 đến hẻm đối diện chợ B để tìm mua ma túy đá và gặp được người đàn ông tên "Tèo” hỏi và mua được 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. T nhận gói ma tuý trực tiếp từ T1, sau khi nhận được gói ma tuý, T cất vào trong túi quần phía sau bên trái đang mặc và T trả tiền trực tiếp 200.000 đồng cho T1 rồi tìm nơi sử dụng ma tuý. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, T đến quán cà phê tại số A đường T, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để uống nước và đậu xe trước quán thì tổ Công an phường T kiểm tra hành chính và phát hiện bắt quả tang.

Xét nghiệm ma túy đối với Âu Đình T cho kết quả dương tính với chất MET.

Kết luận giám định số 4379/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận:

Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1670 gam, loại: Methamphetamine (bút lục 38).

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 333/24, các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T2 (cán bộ PC 09), Nguyễn Thị Phương M. Bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau khi phục vụ giám định.
  • - 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia G10
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Nouvo biển số 51R6-2419.

Qua xác minh xe mô tô hiệu Nouvo, biển số 51R6 - 2419 số khung RLCN2B5607Y033971, số máy: 2856033971, do ông Nguyễn Quốc V1, nơi thường trú: B P, Phường C, quận P là người đứng tên đăng ký xe vào ngày 25/7/2007. Kết quả làm việc với ông Nguyễn Quốc V1 cho biết ngày 25/7/2007 ông có mua và đăng ký sử dụng xe mô tô hiệu Nouvo, biển số 51R6 - 2419 nói trên. Tuy nhiên, ông đã bán xe lại cho người khác nhưng do thời gian đã lâu ông không nhớ bán cho ai và bán từ thời gian nào. T khai nhận mua xe của một người bạn không rõ lai lịch để làm phương tiện đi lại, khi trao đổi mua xe T đưa tiền trực tiếp cho người bán xe, và người bán xe đưa xe và giấy tờ đăng ký xe cho T, không làm giấy tờ mua bán xe, ngày 04/4/2024 thì bị bắt giữ.

Cáo trạng số 463/CT-VKSTPTĐ ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố Âu Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quyền công tố luận tội đối với bị cáo: Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, tác hại của ma túy và giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung của bản Cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Âu Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố. Bị cáo không tranh luận với kiểm sát viên. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị cáo bị tạm giam bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc V1 trình bày: xe mô tô hiệu Nouvo, biển số 51R6 – 2419, ông đã bán lại xe cho người khác, khi bán có làm thủ tục mua bán tại Văn phòng công chứng nhưng do thời gian đã lâu ông không nhớ bán cho ai và bán từ thời gian nào. Tại phiên tòa hôm nay ông không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 22 giờ 00 phút ngày 04/4/2024 của Công an phường T, thành phố T (BL 33, 34); phù hợp với: các Bản tường trình của người làm chứng (BL 63, 67); Kết luận giám định số: 4379/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H; cùng các tang vật chứng thu giữ được, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Âu Đình T là người không được phép tàng trữ các chất ma túy nhưng bị cáo đã cất giữ trái phép 0,1670g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng là bị cáo Âu Đình T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Bị cáo Âu Đình T là người nghiện ma túy, muốn được thỏa mãn các nhu cầu thấp kém của bản thân nên bị cáo đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật, cố ý đi sâu vào con đường lạm dụng các chất ma túy. Trong vụ án này. Để thỏa mãn việc nghiện ma túy bị cáo Âu Đình T đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,1670g ma túy loại Methamphetamine để xử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Âu Đình T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu chất ma túy, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lây lan những căn bệnh nan y chưa có thuốc chữa, làm phát sinh các tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận một phần.

[5] Đối với Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 333/24, các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T2 (cán bộ PC 09), Nguyễn Thị Phương M.
  • + Đối với 01 (một) Điện thoại di động hiệu N1 G10, không liên quan đến vụ án nghĩ nên giao trả cho bị cáo Âu Đình T.
  • + Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Nouvo biển số 51R6-2419. Nghĩ nên giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm chủ sở hữu trong thời gian 04 tháng, hết thời gian thông báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với người thanh niên tên C1 (chưa rõ lai lịch) chỉ chỗ cho T mua ma túy về sử dụng, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với người đàn ông tên T1 (không rõ lại lịch) có hành vi bán ma túy cho Âu Đình T tại hẻm đối diện chợ B, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Âu Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Âu Đình T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
  3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 333/24, các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T2 (cán bộ PC 09), Nguyễn Thị Phương M.
    • + Giao trả cho Âu Đình T 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia G10.
    • + Giao cho Chi cục Thi hành dân sự thành phố T: 01 (một) xe mô tô hiệu Nouvo biển số 51R6-2419 để làm thủ tục thông báo tìm chủ sở hữu trong thời gian 04 tháng, hết thời gian thông báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

    (Tài sản tịch thu tiêu hủy, giao trả và giao cho Chi cục Thi hành dân sự thành phố T được ghi trong Biên bản giao nhận tang vật số 446C ngày 05/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

  4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Những người vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Bùi Viết Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 552/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 552/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 519/2024/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2024,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger