|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 552/2023/HS-PT Ngày: 29-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường
Các thẩm phán: Ông Vũ Thanh Liêm
Ông Phạm Ngọc Thái
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và tại Điểm cầu thành phần Hội trường xét xử, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (cơ sở tạm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh; địa chỉ: Khu T xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi), Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 502/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người”. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2023/HS-ST ngày 16/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Bị cáo bị kháng nghị
Nguyễn Văn H; sinh ngày 26 tháng 03 năm 1991 tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị C; vợ ly hôn; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2018, đến ngày 31/01/2019 được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh; ngày 31/10/2022 bị bắt tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Nguyễn Văn H: Bà Phan Thị Bích X1 – Là Luật sư Văn phòng Luật sư Phan Thị Bích X1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số H đường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Hữu N, sinh ngày: 14/04/1985.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu N: Ông Nguyễn T, sinh năm: 1965, vắng.
Đều trú tại: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Ông Nguyễn Hữu N1, sinh ngày: 25/06/1995, vắng.
Trú tại: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 17/02/2018, Nguyễn Văn H và Nguyễn Hữu N gặp nhau tại sòng bầu cua ở thôn L. Tại đây, H và N xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến xô xát với nhau; Ngộ cắn ngón tay trái của H bị thương, còn H dùng tay phải đánh vào miệng N làm gãy 01 cái răng hàm dưới (R4.1). Sau đó, H chạy bộ về nhà thì gặp anh Đỗ Thành V cùng thôn đi xe mô tô 76C1-341.21, nên H nhờ V chở về nhà.
Sau khi bị đánh N về nhà và cùng cha, mẹ, vợ của N đi đến nhà ông Nguyễn Văn X (Cha đẻ của H) ở cùng thôn để nói lại sự việc bị H đánh gãy răng. Sau khi nói chuyện xong, N được Nguyễn Hữu N1 (Em ruột N) điều khiển xe mô tô 76C1-147.73 chở N đi về. Khi đến đoạn đường trước nhà anh Nguyễn T1, trú tại thôn L, xã B, huyện B thì cả hai gặp anh V và H. Lúc này, V đang ngồi trên xe mô tô của mình, H đứng cùng V ở phía trong lề đất; Nghị dừng xe giữa đường, N bước xuống xe, tay phải cầm dao xông đến chỗ V và H đang đứng, cùng thời điểm này V bước xuống xe và tiến về phía Ngộ để can ngăn; N đứng đối diện với V, còn H đi lùi lại. Nghị xuống xe lượm viên gạch bên lề đường cầm trên tay phải rồi đến đứng phía sau N. Sau đó, N1 đi đến gần V, dừng đối diện và dùng viên gạch đập vào bên trái đầu V gây thương tích cho V, viên gạch rơi xuống đường. Thấy vậy, H lượm 01 đoạn cây củi trước nhà dân ném về phía Nghị nên N1 bỏ chạy. Hiên tiếp tục chạy lại đống củi thì thấy 01 cây rựa trên đống củi nên cầm lấy cây rựa tiến về phía Nghị, còn N1 thì cũng tiếp tục lượm viên gạch khác ở đoạn trước nhà bà Phan Thị X1 đi về phía Hiên, lúc này H chạy vượt qua chỗ N và V đang giằng co thì gặp N1 đi đến, đứng đối diện với H dọc theo trục đường nên H vung rựa chém Nghị theo hướng từ trên xuống, từ phải qua trái trúng vùng đỉnh thái dương trái N1 gây thương tích và N1 ngã nằm dưới đất. Ngay sau khi chém Nghị, H thấy N đang vật nhau với V tại mương thoát nước phía Tây đường. (Ngộ đang ngồi trên người của V) nên H chạy đến phía sau N, dùng rựa chém vào vùng đầu của N gây thương tích. Bị đánh nên N và V thả nhau ra, Ngộ ngồi trên mép đường phía T2, V cầm lấy con dao từ tay N rồi đứng dậy cùng H đi bộ về phía xe mô tô của V. Lúc này, gia đình của N1 và N đến, tri hô nên H và V bỏ đi khỏi hiện trường. (Bút lục: 81, 121-134, 131, 156, 207, 382-383, 386, 388, 392-397, 404-411, 478, 582-603, 611-617, 634-645).
Sau khi bị đánh Nguyễn Hữu N1 và Nguyễn Hữu N tự đi điều trị thương tích (Bút lục: 81, 85, 156, 582, 603, 634-645).
* Kết quả giám định:
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 78/2018/GĐPY ngày 11/05/2018, của Phòng giám định pháp y Bệnh viện Đ kết luận thương tích của Nguyễn Hữu N1:
- 02 vết thương vùng đầu (0,63%), dập não, tụ máu nhu mô thái dương – đỉnh trái, xuất huyết não thất bên trái; tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái #5mm; hệ thống não thất trong giới hạn bình thường; Nứt, lún xương thái dương – đỉnh trái (37%) có tổng tỷ lệ thương tích là 38% (Ba mươi tám phần trăm);
- Các tổn thương trên phù hợp vật sắc gây thương tích (Bút lục 56).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 79/2018/GĐPY ngày 11/5/2018 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện Đ kết luận thương tích của Nguyễn Hữu N: Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải (21%), nứt xương thái dương phải (6,32%), 04 sẹo phần mềm (0,72%) có tổng tỷ lệ thương tích là 28% (Hai mươi tám phần trăm);
- Các tổn thương trên phù hợp vật sắc gây thương tích (Bút lục 52).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 149/2018/GĐPY ngày 28/8/2018 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện Đ, kết luận thương tích của Đỗ Thành V: 01 sẹo vùng chẩm trái kt (3,5 x 0,1) cm, có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 6% (Sáu phần trăm) (Bút lục 62).
* Để xác định tỷ lệ từng tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành dấu vết từng tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu N1, Nguyễn Hữu N và Đỗ Thành V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 16 ngày 15/01/2020 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Q đối với Đỗ Thành V xác định:
- Vùng chẩm thái dương trái có vết rách dập da đã lành, sẹo dài 3,5cm, hướng từ trái sang phải, từ sau ra trước, vết thương này không gây lún sọ (Tỷ lệ thương tích 06%);
- Vùng bụng, cách đường giữa 01cm về bên trái, cách trên rốn 13cm có vết xát da đã lành, sẹo dài, rộng 0,2cm. Vết thương này do vật tày có cạnh gây nên, hướng từ trước ra sau (Tỷ lệ thương tích 01%).
Tổng tỷ lệ thương tích 07% (Bảy phần trăm) (Bút lục 274).
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 306 ngày 07/10/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Q đối với Nguyễn Hữu N1, xác định:
- Vùng đỉnh thái dương trái có vết rách da và vết mổ đã lành để lại sẹo xấu dài 10cm, rộng 0,4cm, sờ dọc theo vết thương có vết khuyết sọ vùng đỉnh thái dương trái dài 6cm, chỗ rộng nhất 2cm (Do phẫu thuật gặm bỏ sọ lún, lấy máu tụ và não dập); da vùng khuyết sọ lõm vào trong, tổ chức não dập nhẹ dưới da đầu tại chỗ khuyết sọ; vết thương này do vật sắc cạnh gây nên, hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lực tác động rất mạnh (Tỷ lệ thương tích 35%).
- Vùng chẩm sau vành tai bên trái có vết rách da và cơ đã lành sẹo xấu dài 3cm, rộng 0,4cm. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên, hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, từ trái sang phải, lực tác động mạnh (Tỉ lệ thương tích 03%).
Tổng tỷ lệ thương tích 38% (Ba mươi tám phần trăm) (Bút lục 277-280).
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 384 ngày 02/12/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Q đối với Nguyễn Hữu N, xác định:
- Vùng đỉnh trán, chếch về bên phải có vết rách da đã lành sẹo dài 3,5cm, rộng 0,2cm, sờ nắn tổ chức dưới da vùng vết thương chắc; vết thương này do vật sắc cạnh gây nên, hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, chếch từ trái sang phải (Tỷ lệ 02%).
- Vùng thái dương - chẩm bên phải có vết rách da và sụn vành tai không liên tục, từ phía trước trên vành tai băng qua đứt sụn vành tai đến vùng hạ chẩm đã lành có chỗ để lại sẹo lồi dài 9cm, chỗ rộng nhất 0,3cm (chấn thương sọ não gây nứt xương thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng bán cầu phải dày #3mm, tụ máu các rãnh bán cầu phải đã được điều trị bảo tồn tạm ổn); vết thương này do vật sắc cạnh gây nên, hướng từ phải sang trái, chếch từ trên xuống dưới, từ trước ra sau (Tỷ lệ 25%).
- Vùng trán phải, sát đường chân tóc có vết rách da đã lành sẹo dài 1,3cm, rộng 0,1cm; vết thương do vật sắc cạnh gây nên, có hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, chếch từ trái qua phải (Tỷ lệ 01%).
- Dọc theo cung bên phải xương hàm dưới có vết rách da đã lành sẹo dài 1,6cm, rộng 0,2cm; vết thương do vật sắc cạnh gây nên, hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau (Tỷ lệ 01%).
- Mất răng R4.1 đã được làm răng giả (Tỷ lệ 01%).
- Trên nền xương bả vai trái có vết xát da và cơ đã lành để lại sẹo lồi dài 3,8cm, chỗ rộng nhất 0,8cm (Vết rách dài 1,8cm); vết thương này do vật tày tác động, hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới (Tỷ lệ 02%).
- Đầu vùng tay bên phải (Gãy đầu gân xương bàn V bàn tay phải); vết thương này do vật tày tác động gây nên (Tỷ lệ 06%).
Tổng tỷ lệ thương tích (Cộng giật lùi) 34% (Ba mươi bốn phần trăm) (Bút lục 282-285).
Đối với phần thương tích của Nguyễn Hữu N1 và Nguyễn Hữu N: Theo kết luận giám định thể hiện: Nguyễn Hữu N1 có 02 vết thương ở vùng đầu do vật sắc gây thương tích (Tỷ lệ thương tích 38%). Nguyễn Hữu N có 04 vết thương ở vùng đầu do vật sắc gây thương tích (Tổng tỷ lệ thương tích là 29%).
Nguyễn Hữu N1 cho rằng trong 02 thương tích vùng đầu của N1 là do V dùng rựa chém gây ra. Nguyễn Hữu N cho rằng trong các thương tích vùng đầu có vết thương ở vùng thái dương phải làm đứt vành tai kéo dài đến sau đầu là do V dùng rựa chém. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không thu giữ được hung khí là cây rựa mà các đối tượng liên quan khai nhận.
Qua điều tra Nguyễn Văn H và Đỗ Thành V đều khẳng định: Khi đánh nhau, chỉ có một mình H là người dùng rựa đánh, chém N1 và N. Bản thân V không sử dụng rựa để đánh nhau mà chỉ có hành động can ngăn N1 và N. Đồng thời, trong các lần khai báo, cả N1 và N thường xuyên thay đổi lời khai về tư thế, cách thức V thực hiện hành vi chém N1 và N, tuy nhiên các lần khai thì N1 và N đều khẳng định không xác định được tư thế, cách thức, khoảng cách cụ thể của V khi thực hiện hành vi chém vào đầu của N1 và N, không xác định được thời gian hình thành thương tích như đã khai.
Do vậy, không có căn cứ để xác định thương tích ở vùng đầu của N1 và N do V gây ra như lời khai của N1 và N.
Bản thân bị cáo Nguyễn Văn H có thừa nhận hành vi dùng rựa chém vào vùng đầu của N1 và chém vào đầu, vai của N gây thương tích. Tuy nhiên, H chỉ thừa nhận dùng rựa chém 01 nhát vào đầu N1 và trở phần sóng rựa chém vào đầu và vai N 02 cái.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H thường xuyên thay đổi lời khai về số lần thực hiện hành vi chém vào đầu N1 và số lần chém vào đầu Ngộ đồng thời khai nhận khi chém N thì bị cáo trở sóng rựa. Tuy nhiên, kết luận giám định đều xác định các thương tích ở vùng đầu của N và N1 là vết thương do vật sắc cạnh gây thương tích. Đồng thời, sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lấy lời khai của H vào các ngày 07/8/2018, 21/9/2018, 10/10/2018 thì H đều thừa nhận thương tích của N1 và N do H gây ra, cụ thể ngày 07/8/2018 (Bút lục 85) Hiên khai dùng rựa chém vào đầu N1 02 cái, chém vào đầu Ngộ 03 cái, lời khai này của H phù hợp với số thương tích trên cơ thể của N1 và N, phù hợp với kết luận giám định thương tích. Do vậy, có căn cứ xác định H là người trực tiếp dùng rựa chém vào đầu của N1 và N gây thương tích.
- Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) áo sơ mi dài tay, màu trắng.
- 01 (Một) quần jean dài, màu xanh đậm.
- 01 (Một) dây thắt lưng dài 1,38m, rộng 3,5cm, mặt ngoài màu đen, mặt trong màu nâu (Đà).
- 02 (Hai) viên gạch 06 lỗ, đã bị vỡ một phần, trong đó 01 viên KT(16,5x10x7)cm; 01 viên KT (19x9x7)cm.
- 01 (Một) con dao, loại dao Thái Lan, có chiều dài 26cm, lưỡi dao bằng kim loại, một mặt cắt, lưỡi dao dài 15cm, bị cong biến dạng, có nơi rộng nhất 2,7cm, mũi nhọn, cán bằng nhựa màu xanh dài 11cm (Bút lục 69-72; 578-580).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2023/HS-ST ngày 16/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 31/10/2022) và được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 13/12/2018 đến ngày 31/01/2019.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị Bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 14/QĐ-VC2 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo dùng rựa chém vào đầu của bị hại, đây là hành động rất nguy hiểm cần phải xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên, cần xem xét cho bị cáo do xuất phát từ việc cải vã nhau và do bị cáo có men rượu; bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường một phần, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả quá trình tranh tụng tại phiên tòa, xem xét quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi và tội danh như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên quyết định kháng nghị số 14/QĐ-VC2 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
[2] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, thương tích của người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định khoảng 14 giờ ngày 17/02/2018, Nguyễn Văn H và Nguyễn Hữu N có mâu thuẫn đánh nhau tại sòng bầu cua; Ngộ cắn ngón tay trái của H bị thương. còn H dùng tay phải đánh vào miệng N làm gãy 01 cái răng hàm dưới (R4.1). Sau đó, N cùng gia đình đến nhà cha đẻ H để nói lại sự việc bị H đánh gãy răng. Sau khi nói chuyện xong thì N được Nguyễn Hữu N1 (Em ruột N) chở N đi về thì cả hai gặp anh Đỗ Thành V và H. N1 dừng xe, N cầm dao xông đến chỗ V và H đang đứng, N1 xuống xe lượm viên gạch đến đứng phía sau Ngộ. Sau đó, N1 đi đến đứng đối diện và dùng viên gạch đập vào bên trái đầu V gây thương tích cho V. Hiên thấy V bị đánh thì chạy lại đống củi và thấy 01 cây rựa trên đống củi nên cầm lấy cây rựa tiến về phía Nghị, còn N1 lượm viên gạch đi về phía H; N1 và H gặp nhau và đứng đối diện với nhau thì H cầm rựa chém từ phải qua trái trúng vùng đỉnh thái dương trái N1 và N1 ngã nằm dưới đất. Ngay sau khi chém Nghị, H thấy N đang vật nhau với V nên H chạy đến phía sau N, dùng rựa chém vào vùng đầu, vùng vai, lưng của N. Lúc này, gia đình của N1 và N đến, tri hô nên H và V bỏ đi khỏi hiện trường.
Theo kết luận giám định thể hiện: Nguyễn Hữu N1 có 02 vết thương ở vùng đầu do vật sắc gây thương tích (Tỷ lệ thương tích 38%). Nguyễn Hữu N có 04 vết thương ở vùng đầu do vật sắc gây thương tích (Tổng tỷ lệ thương tích là 29%).
Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi dùng rựa là hung khí nguy hiểm đánh, chém vào vùng đầu, thái dương là vùng trọng yếu trên cơ thể, có khả năng dẫn đến chết người; bị cáo đã dùng rựa chém vào vùng đỉnh thái dương trái của N1, làm N1 ngã nằm xuống đất; sau đó tiếp tục chạy đến phía sau N, dùng rựa chém vào vùng đầu của N; hành vi của bị cáo H thể hiện ý chí muốn tước đoạt tính mạng của anh N1 và anh N, việc anh N1 chỉ bị thương tích 38%, anh N chỉ bị thương tích 29% mà không chết là ngoài ý muốn của bị cáo.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là “Giết 02 người trở lên”. Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét kháng nghị tăng hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Mặc dù, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, như: Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại tổng cộng số tiền 60.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, mức hình phạt cao nhất được áp dụng là 20 năm tù (khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự). Toà án cấp sơ thẩm quá nhấn mạnh vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định xử phạt bị cáo 07 năm tù là nhẹ, chưa đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo gây ra. Kháng nghị tăng hình phạt của Viện kiểm sát là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo.
Về án phí phúc thẩm: Vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm d, Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị số 14/QĐ-VC ngày 06/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt.
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù, về tội “ Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam: Ngày 31/10/2022 nhưng được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 13/12/2018 đến ngày 31/01/2019.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Cường |
Bản án số 552/2023/HS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự, tội giết người
- Số bản án: 552/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự, Tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị số 14/QĐ-VC ngày 06/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt. 1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù, về tội “ Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam: Ngày 31/10/2022 nhưng được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 13/12/2018 đến ngày 31/01/2019.
