Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 551/2024/HS-ST

Ngày: 30-09-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Quyền Lương.
  2. Ông Lê Lương Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 535/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 539/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

BÙI THỊ KIM D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký HKTT: tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức M (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1962 (đã chết); bị cáo có chồng là Nguyễn Văn M1, sinh năm 1970 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012 và con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 12/6/2024, sau đó được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (Có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Tổ H, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 16/05/2024, Bùi Thị Kim D điều khiển xe mô tô hiệu Honda, biển số 60F2-804.04 vào gửi tại nhà giữ xe của bệnh viện Đ (ĐHYD) Shingmark, địa chỉ: Khu phố A, phường L, TP ., tỉnh Đồng Nai, để vào bệnh viện khám bệnh. Đến nơi, D dựng chiếc xe ở dãy thứ 3, ô số 04 (hướng từ cổng soát vé đi vào) thì thấy bên cạnh có 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F1-505.39, của chị Nguyễn Thị H sinh năm: 1999, địa chỉ: Tổ H, KP.4, P. T, TP Đồng Nai, có chìa khóa cắm ở ổ khoá cốp xe, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D mở cốp xe mô tô Honda Vision, biển số 60F1-505.39, tìm kiếm bên trong thì thấy có 01 (một) thẻ từ giữ xe của bệnh viện Đ1, 01 (một) chiếc áo khoác vải màu nâu, 01 (một) ví da màu nâu bên trong ví có 01 (một) thẻ Căn cước công dân tên Nguyễn Thị H.

D lấy áo khoác và ví da cất vào cốp xe mô tô của D, rồi sử dụng chiếc thẻ từ giữ xe vừa lấy trộm được để đưa xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F1-505.39, qua cổng kiểm soát vé ra khỏi bệnh viện Đ1. Sau đó, D điều khiển xe mô tô trên đến cửa hàng mua bán xe máy cũ “Thanh Lịch”, địa chỉ: Tổ B, khu phố F, phường L, TP ., bán cho chị Trần Thị L1 sinh năm: 1977, nơi cư trú: Số F, khu phố F, P. L, TP . với giá 1.400.000đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng). Số tiền này D đã tiêu xài cá nhân hết. Khi bán xe, D nói với chị L1 đây là xe của D đã bị mất giấy tờ, chị L1 không biết chiếc xe này do D phạm tội mà có nên đã đồng ý mua xe.

Sau khi bán được xe, D đi bộ ra đầu đường B, thuê một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ lai lịch, địa chỉ) chở D đến cổng Bệnh viện ĐHYD Shingmark, rồi đi bộ vào nhà giữ xe để lấy chiếc xe mô tô Honda biển số 60F2-804.04 đem về nhà. Sự việc xảy ra, chị H đã trình báo Công an phường L lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

* Vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F1-505.39 là tài sản bị trộm cắp. Qua xác minh, tài sản này thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị H1 (sinh năm 1979), giao cho con gái là chị Nguyễn Thị H quản lý, sử dụng. Tài sản đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu hồi và trả lại cho bà Hoàng Thị H1.
  • - 01 (một) chiếc áo khoác vải màu nâu, 01 (một) ví da, 01 thẻ Căn cước công dân tên Nguyễn Thị H, là các tài sản của chị Nguyễn Thị H bị mất trộm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho chị H.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, biển số 60F2-804.04 của Bùi Thị Kim D sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
  • - 01 (một) USB, bên trong có 04 đoạn video ghi lại hình ảnh Bùi Thị Kim D trộm cắp tài sản tại bệnh viện Đ1 (Lưu hồ sơ vụ án).

* Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 172/KL-HĐĐGTS, ngày 05/6/2024, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, kết luận: “01 xe mô tô biển số 60F1-505.39 trị giá 11.680.000đồng (Mười một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng), 01 ví da trị giá 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng), 01 áo khoác trị giá 90.000đồng (Chín mươi nghìn đồng)”. Tổng tài sản trị giá 11.820.000đồng (Mười một triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Bà Hoàng Thị H1, chị Trần Thị L1 không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 523/CT-VKSBH ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Thị Kim D về tội "Trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 08 (tám) đến 10 (Mười tháng) tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 60F2-804.04 của Bùi Thị Kim D sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến đối với việc truy tố, không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn hối cải, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có thể phụ giúp gia đình vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo bị bệnh không có việc làm, gia đình có 02 con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Trên cơ sở khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 16/05/2024, tại khu vực giữ xe của bệnh viện Đ1, địa chỉ: Khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Bùi Thị Kim D đã có hành vi trộm cắp các tài sản: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F1-505.39 (thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị H1 giao cho chị Nguyễn Thị H quản lý, sử dụng), 01 chiếc áo khoác vải màu nâu, 01 ví da, 01 thẻ Căn cước công dân tên Nguyễn Thị H, có tổng trị giá 11.820.000 đồng (Mười một triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị H thì bị phát hiện, điều tra, xử lý theo quy định.

Xét thấy, hành vi của bị cáo như đã nêu trên đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

[3] Về nhân thân, tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật, bị cáo biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã cố tình vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Khi hành vi phát giác bị cáo đã đầu thú với cơ quan chức năng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nêu trên. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Quá trình tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt các quy định pháp luật, không có bất cứ hành vi vi phạm pháp luật khác thể hiện bị cáo có khả năng tự cải tạo, sửa chữa sai lầm. Do đó, việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phương nên quyết định áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục việc tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương. Như vậy cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

  • - Cơ quan điều tra đã trả 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F1-505.39 cho bà Hoàng Thị H1; trả 01 (một) chiếc áo khoác vải màu nâu, 01 (một) ví da, 01 thẻ Căn cước công dân tên Nguyễn Thị H cho chị H là đúng quy định pháp luật.
  • - 01 xe mô tô hiệu H3, biển số 60F2-804.04 là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
  • - 01 (một) USB, bên trong có 04 đoạn video ghi lại hình ảnh Bùi Thị Kim D trộm cắp tài sản tại bệnh viện Đ1 (Lưu hồ sơ vụ án).

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường; bà Hoàng Thị H1, chị Trần Thị L1 không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[10] Về vấn đề khác: Đối với chị Trần Thị L1 là người mua xe mô tô Honda Vision, biển số 60F1-505.39 do bị cáo D bán, chị L1 không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[11] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao; Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
  2. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Kim D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Bùi Thị Kim D 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Bùi Thị Kim D cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo Bùi Thị Kim D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 60F2-804.04 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    + Buộc bị cáo Bùi Thị Kim D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại (02);
  • - VKSND Tp.Biên Hòa (01);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (01);
  • - Công an Tp.Biên Hòa (01);
  • - Cơ quan Thi hành án (01);
  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (01);
  • - Lưu VP-HS (05).

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Trúc Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 551/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 551/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Kim Dung tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger