TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 551/2023/HS-ST
Ngày: 29 - 12 - 2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đạt và ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 533/2023/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 585/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Phí Thị Thu L, sinh năm: 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: G đường B, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Phí Văn V (©) và bà Nguyễn Thị X (©); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chồng: Nguyễn Chí T, sinh năm 1964 và có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giam từ ngày 06/7/2023 đến ngày 31/8/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Võ Thị Yến L1, sinh năm 1992.
- Chị Đinh Thị D, sinh năm 1964.
- Chị Hoàng Thị L2, sinh năm 1980.
- Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1978.
- Chị Phan Thị Diễm H, sinh năm 1993.
- Chị Trần Thị G, sinh năm 1983.
- Chị Hoàng Thị D1, sinh năm 1982.
- Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số I, Tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số H, Đường A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số H, Tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, đường L, Khu phố F, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Địa chỉ: Nhà không số, Đường A, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số G, Tỉnh lộ 43, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, Tỉnh lộ 43, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường B, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 8/2022, L2 bắt đầu cho vay lãi nặng nhằm kiếm tiền tiêu xài. Người vay chủ yếu là người dân sinh sống trên địa bàn phường T. Khi cho vay L2 không làm hợp đồng mà chỉ thoả thuận với người vay, riêng đối với khoản vay từ 100.000.000 đồng trở lên thì L2 sẽ yêu cầu viết giấy nợ, hoặc thế chấp sổ hồng. Người vay nợ, có thể đóng tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng S số tài khoản 060265615697 tên Phí Thị Thu L. Hình thức L cho vay là trả lãi góp hoặc trả lãi đứng, lãi suất từ 39% đến 730%/ năm, cụ thể như sau:
Hình thức vay trả lãi góp, có nghĩa là người vay phải trả nợ theo kỳ. Mỗi kỳ trả nợ số tiền bằng nhau, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi cho đến khi hết số kỳ theo thỏa thuận. Mỗi kỳ được tính là 01 ngày.
Hình thức vay trả lãi đứng, có nghĩa là người vay chỉ trả tiền lãi hằng ngày hoặc theo định kỳ, tiền gốc giữ nguyên đến khi nào trả được tiền gốc thì hoàn tất khoản vay.
Nhận được tin báo về việc Phí Thị Thu L cho vay lãi nặng trên địa bàn chợ đầu mối nông sản Thủ Đức nên ngày 30/6/2023, Công an phường T đã truy xét đưa L và mời những người vay tiền của L về trụ sở làm việc đồng thời chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp nhận.
Quá trình điều tra đã xác định được Phí Thị Thu L cho 08 người vay tiền, cụ thể như sau:
1. Võ Thị Yến L1:
- Lần 1: Ngày 10/4/2023, thỏa thuận vay góp, vay 50.000.000 đồng trong 57 ngày, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 1.000.000 đồng x 57 ngày = 57.000.000 đồng. Thực tế đã trả 34 ngày x 1.000.000 đồng = 34.000.000 đồng, còn lại 23.000.000 đồng. Đến ngày 15/4/2023, vay tiếp 50.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại 23.000.000 đồng, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 931.507 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 6.068.493 đồng, với lãi suất 0,41% /ngày, tương đương 150%/năm.
- Lần 2: Ngày 15/4/2023, thỏa thuận vay góp, vay 50.000.000 đồng trong 57 ngày (Đã dùng 23.000.000 đồng trả nợ cho khoản vay lần 1, thực tế nhận 27.000.000 đồng), mỗi ngày trả 1.000.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 1.000.000 đồng x 57 ngày = 57.000.000 đồng. Thực tế đã trả 40 ngày x 1.000.000 đồng = 40.000.000 đồng. Còn lại 17.000.000 đồng. Đến ngày 24/5/2023, vay tiếp 50.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại 17.000.000 đồng. Khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 1.095.890 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 5.904.110 đồng, với lãi suất 0,35%/ngày, tương đương 128%/năm.
- Lần 3: Ngày 24/5/2023, thỏa thuận vay góp, vay 50.000.000 đồng trong 57 ngày (Đã dùng 17.000.000 đồng trả nợ cho khoản vay lần 2, thực tế nhận 33.000.000 đồng), mỗi ngày trả 1.000.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 1.000.000 đồng x 57 ngày = 57.000.000 đồng. Thực tế đã trả 2 ngày x 1.000.000 đồng = 2.000.000 đồng (Trong đó 1.754.386 là tiền gốc). Khoản vay chưa tất toán và thống nhất không tính lãi những ngày còn lại chỉ đòi lại tiền gốc vào đầu tháng 7/2023. Đến ngày 30/6/2023 thì bị phát hiện. Như vậy, trong lần vay này L đã thu lợi hợp pháp là 54.795 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 190.820 đồng, với lãi suất 0,25%/ngày, tương đương 90%/năm. (Khoản vay này không được tính là vay lãi nặng mà là giao dịch dân sự).
Kết luận: L cho bà L1 vay 03 lần, mỗi lần 50.000.000 đồng, 02 khoản vay đầu đã tất toán, khoản vay thứ 03 chưa tất toán, lãi suất cho vay của 02 khoản vay đầu vượt quá 100%/năm, lãi suất cho vay của khoản vay thứ 03 là 90%/năm nên 02 khoản vay đầu được xác định là căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với L. Riêng khoản vay thứ ba được xác định là giao dịch dân sự. Số tiền được xác định là phương tiện, công cụ L cho L1 vay lãi nặng trong 02 khoản vay đầu là: 50.000.000 + 27.000.000 = 77.000.000 đồng. Số tiền L đã thu lợi hợp pháp là 931.507 + 1.095.890 = 2.027.397 đồng; số tiền L đã thu lợi bất chính là 6.068.493 + 5.904.110 = 11.972.503 đồng.
2. Đinh Thị D:
Ngày 22/8/2022, thỏa thuận vay đứng, vay 200.000.000 đồng, mỗi tháng phải trả lãi 30.000.000 đồng trong vòng 06 tháng. Từ tháng 9/2022 đến tháng 02/2023, mỗi tháng D trả L 30.000.000 đồng, tổng cộng D đã trả L 180.000.000 đồng. Do không đủ khả năng trả gốc và lãi, bắt đầu từ tháng 3/2022, D và L thỏa thuận tiếp tục gia hạn khoản vay cũ và trả lãi mỗi tháng 10.000.000 đồng cho khoản vay 200.000.000 đồng. Dung đóng được 03 tháng, từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023 với tổng số tiền là 30.000.000 đồng.
Kết luận: L cho D vay 01 lần với số tiền 200.000.000 đồng, khoản vay chưa tất toán, lãi suất từ tháng 9/2022 đến tháng 02/2023 là 180%/năm, lãi suất từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023 là 61%/năm nên phần lãi suất cho vay trong thời gian tháng 9/2022 đến tháng 02/2023 được xác định là căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với L. Trong đó, số tiền là công cụ, phương tiện L cho vay D vay lãi nặng là 200.000.000 đồng. Số tiền là công cụ, phương tiện L cho vay lãi nặng đã thu về là 0 đồng. Số tiền L đã thu lợi hợp pháp là 20.000.000 đồng. Số tiền L đã thu lợi bất chính là 160.000.000 đồng.
Riêng khoản lãi suất L thu trong giai đoạn từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023 là thỏa thuận dân sự do lãi suất không đủ 100%/năm.
3. Hoàng Thị L2:
Do cần tiền kinh doanh nên Hoàng Thị L2 (gọi tắt là Hoàng L2) liên hệ với Phí Thị Thu L (gọi tắt là Phí L), thế chấp sổ hồng tên Trương Phước L3 (là chồng Hoàng L2), viết giấy vay nợ để vay các khoản vay như sau:
- Lần 1: Ngày 28/5/2023, thỏa thuận vay đứng, vay 100.000.000 đồng, mỗi ngày trả 400.000 đồng. Thực tế đã trả 05 ngày x 400.000 đồng = 2.000.000 đồng (đến ngày 02/6/2023). Như vậy, trong lần vay này Phí L thu lợi hợp pháp là 273.973 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 1.726.027 đồng, với lãi suất 0,4%/ngày, tương đương 146%/năm.
- Lần 2: Ngày 03/6/2023, Hoàng L2 trả lại cho Phí L 50.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại 50.000.000 đồng tiền gốc và tiếp tục thỏa thuận vay đứng, mỗi ngày trả 200.000 đồng. Thực tế đã trả 09 ngày x 200.000 đồng = 1.800.000 đồng (đến ngày 11/6/2023), khoản vay chưa tất toán. Như vậy, trong lần vay này Phí L thu lợi hợp pháp là 246.575 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 1.553.425 đồng, với lãi suất 0,4%/ngày, tương đương 146%/năm.
- Lần 3: Ngày 12/6/2023, Hoàng L2 vay tiếp 50.000.000 đồng nên tổng số nợ gốc Hoàng L2 vay của Phí L là 100.000.000 đồng. Tiếp tục thỏa thuận vay đứng, mỗi ngày trả 400.000 đồng trong vòng 29 ngày. Thực tế đã trả 17 ngày x 400.000 đồng = 6.800.000 đồng. Ngày 30/6/2023 bị phát hiện, ngăn chặn. Như vậy, trong lần vay này Phí L thu lợi hợp pháp là 931.507 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 5.868.493 đồng, với lãi suất 0,4%/ngày, tương đương 146%/năm.
Kết luận: Phí Lan cho Hoàng L2 vay 03 lần, cả 03 lần là căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phí L. Trong đó, số tiền được xác định là công cụ, phương tiện Phí Lan cho Hoàng L2 vay lãi nặng là 100.000.000 đồng (Từ số tiền 100.000.000 đồng Phí Lan đã cho Hoàng L2 vay 03 lần). Số tiền xác định là công cụ, phương tiện cho vay lãi nặng Phí Lan thu về là 0 đồng. Số tiền Phí L đã thu lợi hợp pháp là 1.452.055 đồng. Số tiền Phí L thu lợi bất hợp pháp là 9.147.945 đồng.
4. Nguyễn Thị Đ:
- Lần 1: Ngày 05/6/2023, thỏa thuận vay góp, vay 5.000.000 đồng trong 30 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 30 ngày x 200.000 đồng = 6.000.000 đồng. Thực tế đã trả 26 ngày x 200.000 đồng = 5.200.000 đồng (Trong đó 4.333.333 đồng là tiền gốc). Còn lại 800.000 đồng. Khoản vay chưa tất toán và thống nhất trả vào đầu tháng 7/2023. Như vậy, trong lần vay này, L thu lợi hợp pháp là 71.233 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 795,434 đồng, với lãi suất 0,67% /ngày, tương đương 243%/năm. Chị Đ còn nợ lại ở lần này là 800.000 đồng.
- Lần 2: Ngày 24/6/2023, thỏa thuận vay góp, vay 5.000.000 đồng, mỗi ngày 200.000 đồng, trong 30 ngày. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 30 ngày x 200.000 đồng = 6.000.000 đồng. Thực tế đã trả 07 ngày x 200.000 đồng = 1.400.000 đồng (Trong đó 1.1667.000 đồng là tiền gốc), còn lại 4.600.000 đồng. Ngày 30/6/2023 bị phát hiện và bị ngăn chặn. Như vậy, khoản vay này L thu lợi hợp pháp là 19.178 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 214.155 đồng, với lãi suất 0,67% /ngày, tương đương 243%/năm.
Kết luận: L cho Đ vay 02 lần mỗi lần cho vay 5.000.000 đồng, lãi suất mỗi lần cho vay là 243%/năm nên là căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với L.
Số tiền là công cụ, phương tiện L sử dụng cho Đ vay lãi nặng là 10.000.000 đồng. Số tiền là công cụ, phương tiện L cho vay lãi nặng thu về là: 4.333.333 đồng + 1.166.667 = 5.500.000 đồng, còn lại 4.500.000 đồng tiền gốc Đương chưa trả cho L. Số tiền L thu lợi bất chính đối với Đ là 1.009.589 đồng. Số tiền L thu lợi hợp pháp là 90.411 đồng.
5. Phan Thị Diễm H:
- Lần 1: Ngày 09/12/2022, thỏa thuận vay góp, vay 20.000.000 đồng trong 40 ngày, mỗi ngày trả 600.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và tiền lãi phải trả là 600.000 đồng x 40 ngày = 24.000.000 đồng. Thực tế đã trả 37 ngày x 600.000 đồng = 22.200.000 đồng, còn lại 1.800.000 đồng. Đến ngày 16/01/2023, vay tiếp 50.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại 1.800.000 đồng, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 405.479 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 3.594.521 đồng, với lãi suất 0,54% /ngày, tương đương 197%/năm.
- Lần 2: Ngày 16/01/2023, thỏa thuận vay góp, vay 50.000.000 đồng trong 40 ngày. (Đã dùng 1.800.000 đồng trả cho khoản vay lần 1, thực tế nhận 48.200.000), mỗi ngày trả 1.500.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 1.500.000 đồng x 40 ngày = 60.000.000 đồng. Thực tế đã trả 39 ngày x 1.500.000 đồng = 58.500.000 đồng. Còn lại 1.500.000 đồng. Đến ngày 26/02/2023, vay tiếp 50.000.000 đồng trả đủ số tiền còn lại 1.500.000 đồng. Khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 1.068.493 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 8.931.507 đồng, với lãi suất 0,51%/ngày, tương đương 187%/năm.
- Lần 3: Ngày 26/02/2023, thỏa thuận vay góp, vay 50.000.000 đồng trong 40 ngày (Đã dùng 1.500.000 đồng trả cho khoản vay lần 2, thực tế nhận 48.500.000 đồng), mỗi ngày trả 1.500.0000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 1.500.000 đồng x 40 ngày = 60.000.000 đồng. Thực tế đã trả 40 ngày x 1.500.000 đồng = 60.000.000 đồng, khoản vay đã tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 1.095.890 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 8.904.110 đồng, với lãi suất 0,50%/ngày, tương đương 183%/năm.
- Lần 4: Ngày 24/3/2023, thỏa thuận vay đứng, vay 20.000.000 đồng. Hình thức trả lãi mỗi ngày phải trả 200.000 đồng. Thực tế đã trả 15 ngày x 200.000 đồng = 3.000.000 đồng (Đến ngày 08/4/2023). Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 164.384 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 2.835.616 đồng, với lãi suất 1%/ngày, tương đương 365%/năm.
- Lần 5: Ngày 09/4/2023, thỏa thuận vay góp, vay 200.000.000 đồng (gồm 20.000.000 đồng nợ gốc ngày 24/3/2023; 40.000.000 đồng L đưa thêm và 140.000.000 đồng tiền nợ trước đó của người thân của H còn nợ L), thời hạn vay 110 ngày, mỗi ngày trả 2.000.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 2.000.000 đồng x 110 ngày = 220.000.000 đồng. Thực tế đã trả 47 ngày x 2.000.000 đồng = 94.000.000 đồng (Đến ngày 27/5/2023), với lãi suất 0,21%/ngày, tương đương 78%/ năm. (Khoản vay này không được tính là vay lãi nặng mà là giao dịch dân sự).
- Lần 6: Ngày 18/6/2023, H và L thống nhất chốt số nợ H còn nợ L 200.000.000 đồng và thỏa thuận vay đứng trên số tiền này, mỗi ngày trả lãi 500.000 đồng. Thực tế đã trả 02 ngày x 500.000 đồng = 1.000.000 đồng. Như vậy, trong lần vay này L với lãi suất 0,25%/ngày, tương đương với 91%/ năm. (Khoản vay này không được tính là vay lãi nặng mà là giao dịch dân sự).
Kết luận: L cho H vay 06 lần, trong đó 04 lần đầu là căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với L. Trong đó 04 lần đầu được xác định là khoản vay đã tất toán. Trong đó, số tiền làm công cụ, phương tiện L cho H vay lãi nặng là 136.700.000 đồng (20.000.000 đồng + 48.200.000 đồng + 48.500.000 đồng + 20.000.000 đồng). Trong đó, số tiền L đã thu lợi hợp pháp là 2.734.246 đồng; số tiền L thu lợi bất hợp pháp là 24.265.754 đồng.
Đối với 02 khoản vay sau (lần 5 và lần 6) được xác định là giao dịch dân sự vay 200.000.000 đồng.
6. Trần Thị G:
- Lần 1: Ngày 11/12/2022, thỏa thuận vay góp, vay 60.000.000 đồng trong 40 ngày, mỗi ngày trả 1.800.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 40 ngày x 1.800.000 đồng = 72.000.000 đồng. Thực tế đã trả 22 ngày x 1.800.000 đồng = 39.600.000 đồng, còn lại 32.400.000 đồng. Đến ngày 02/01/2023, vay tiếp 60.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại 32.400.000 đồng, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp trong 22 ngày là 723.288 đồng, thu lợi bất hợp pháp trong 22 ngày là 11.276.712 đồng, với lãi suất 0,91%/ngày, tương đương 332%/năm.
- Lần 2: Ngày 02/01/2023, thỏa thuận vay góp, vay 60.000.000 đồng trong 40 ngày (Đã dùng 32.400.000 đồng trả cho khoản vay lần 1, thực tế nhận 27.600.000 đồng), mỗi ngày trả 1.800.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 40 ngày x 1.800.000 đồng = 72.000.000 đồng. Thực tế đã trả 10 ngày x 1.800.000 đồng = 18.000.000 đồng, còn lại 54.000.000 đồng. Sau đó, các bên thỏa thuận tất toán khoản vay này chuyển số nợ còn lại này nhập với nợ còn lại của khoản vay lần 3 thành khoản vay đứng lần 4. Như vậy, trong lần vay này, L đã thu lợi hợp pháp là 328.767 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 11.671.233 đồng, với lãi suất 2%/ngày, tương đương 730%/năm.
- Lần 3: Khoảng tháng 11/2022, G vay của L 80.000.000 đồng, thỏa thuận vay góp trong 40 ngày, mỗi ngày đóng 2.200.000 đồng. Nhưng tới tháng 01/2023, G1 mới bắt đầu đóng từ tiền lãi và gốc. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 40 ngày x 2.200.000 đồng = 88.000.000 đồng. Thực tế đã trả 29 ngày x 600.000 đồng = 63.800.000 đồng (trong đó 58.000.000 đồng tiền gốc). Còn lại 24.200.000 đồng. Sau đó, các bên thỏa thuận tất toán khoản vay này chuyển số nợ còn lại nhập với nợ còn lại của khoản vay lần 2 thành khoản vay đứng lần 4. Như vậy, trong lần vay này, L đã thu lợi hợp pháp 1.753.425 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 6.246.575 đồng, với lãi suất 0,25% /ngày, tương đương 91%/năm. (Khoản vay này không tính là vay nặng lãi mà là giao dịch dân sự).
- Lần 4: Ngày 19/5/2023, do Gái không có khả năng trả nợ, nên L tính tổng các khoản Gái phải trả nợ còn lại tại lần 2 và lần 3 và thoả thuận lại với G một khoản vay đứng mới, có tiền gốc là 83.000.000 đồng, mỗi ngày trả 400.000 đồng. Thực tế đã trả cho L 26 ngày x 400.000 đồng = 10.400.000 đồng. Sau đó, cả hai bên thỏa thuận tất toán khoản vay để chuyển nợ gốc 83.000.000 đồng sang khoản vay mới. Như vậy, trong khoản vay này, L thu lợi hợp pháp 1.182.466 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 9.217.534 đồng, với lãi suất là 0,48%/ngày, tương đương 176%/ năm.
- Lần 5: Ngày 25/6/2023, chuyển nợ gốc 83.000.000 đồng của khoản vay lần 4 theo thỏa thuận vay góp trong 180 ngày, mỗi ngày trả 550.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 180 ngày x 550.000 đồng = 99.000.000 đồng. Thực tế đã trả 5 ngày x 550.000 đồng = 2.750.000 đồng. Ngày 30/6/2023, bị phát hiện ngăn chặn, khoản vay chưa tất toán. Trong đó thu lợi hợp pháp là 227.397 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 217.012 đồng. Như vậy, Phí Thị Thu L cho Trần Thị G vay với lãi suất 0,11% /ngày, tương đương 40%/năm. (Khoản vay này không tính là vay nặng lãi mà là giao dịch dân sự).
Kết luận: L cho G vay 05 lần, trong đó lần 1, 2, 4 là căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với L. Số tiền xác định là công cụ, phương tiện L đã đưa cho G cho vay lãi nặng là 60.000.000 đồng + 27.600.000 đồng + 24.200.000 đồng (Tiền còn lại từ khoản vay thứ 3 góp lại khoản vay thứ 4 là khoản vay nặng lãi) = 111.800.000 đồng. Số tiền L đã thu lợi hợp pháp là 2.234.521 đồng. Số tiền L thu lợi bất hợp pháp là 32.165.479 đồng.
Đối với khoản vay lần 3, 5 là giao dịch dân sự.
7. Hoàng Thị D1:
- Lần 1: Ngày 01/12/2022, thỏa thuận vay góp, vay 30.000.000 đồng trong 23 ngày, mỗi ngày 1.500.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 23 ngày x 1.500.000 đồng = 34.500.000 đồng. Thực tế đã trả 17 ngày x 1.500.000 đồng = 25.500.000 đồng. Còn lại 9.000.000 đồng. Đến ngày 19/12/2022, vay tiếp 30.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 279.452 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 4.220.548 đồng, với lãi suất 0,88%/ngày, tương đương 322%/năm.
- Lần 2: Ngày 19/12/2022, thỏa thuận vay góp, vay 30.000.000 đồng trong 23 ngày, mỗi ngày 1.500.000 đồng (Đã dùng 9.000.000 đồng trả cho khoản vay còn nợ lần 1, thực tế nhận 21 21.000.000 đồng). Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 23 ngày x 1.500.000 đồng = 34.500.000 đồng. Thực tế đã trả 21 ngày x 1.500.000 đồng = 31.500.000 đồng. Còn lại 3.000.000 đồng. Đến ngày 10/01/2023, vay tiếp 30.00.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 345.205 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 4.154.795 đồng, với lãi suất 0,71% /ngày, tương đương 261%/năm.
- Lần 3: Ngày 10/1/2023, thỏa thuận vay góp, vay 30.000.000 đồng trong 40 ngày, mỗi ngày 900.000 đồng (Đã dùng 3.000.000 đồng cho khoản vay còn nợ lần 2, thực tế nhận 27.000.000 đồng). Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 40 ngày x 900.000 đồng = 36.000.000 đồng. Thực tế đã trả 10 ngày x 900.000 đồng = 9.000.000 đồng. Còn lại 27.000.000 đồng. Ngày 06/02/2023, vay tiếp 30.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại, khoản vay tất toán. Như vậy, trong khoản vay này L đã thu lợi hợp pháp là 164.384 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 5.835.616 đồng, với lãi suất 2%/ngày, tương đương 730%/năm.
- Lần 4: Ngày 06/2/2023, thỏa thuận vay góp, vay 30.000.000 đồng trong 40 ngày, mỗi ngày 900.000 đồng, (Đã dùng 27.000.000 đồng trả cho khoản vay còn nợ lần thứ 3, thực tế nhận 3.000.000 đồng). Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 40 ngày x 900.000 đồng = 36.000.000 đồng. Thực tế đã trả 19 ngày x 900.000 đồng = 17.100.000 đồng. Còn lại 18.900.000 đồng. Ngày 27/02/2023, vay tiếp 30.000.000 và trả đủ số tiền còn lại, khoản vay tất toán. Như vậy, trong khoản vay này L đã thu lợi hợp pháp là 312.329 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 5.687.671 đồng, với lãi suất 1,05 %/ngày, tương đương 384%/năm.
- Lần 5: Ngày 27/2/2023, thỏa thuận vay góp, vay 30.000.000 đồng trong 23 ngày, mỗi ngày 1.500.000 đồng (Đã dùng 18.900.000 đồng trả cho khoản vay còn nợ lần thứ 4, thực tế nhận 11.100.000 đồng). Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 23 ngày x 1.500.000 đồng = 34.500.000 đồng. Thực tế đã trả 18 ngày x 1.500.000 đồng = 27.000.000 đồng. Còn lại 7.500.000 đồng. Ngày 17/3/2023, vay tiếp 30.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại, khoản vay tất toán. Như vậy, trong khoản vay này L thu lợi hợp pháp là 295.890 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 4.204.110 đồng, với lãi suất 0,83%/ngày, tương đương 304%/năm.
- Lần 6: Ngày 17/3/2023, thỏa thuận vay góp, vay 30.000.000 đồng trong 23 ngày, mỗi ngày 1.500.000 đồng (Đã dùng 7.500.000 đồng trả cho khoản vay còn nợ lần thứ 5, thực tế nhận 22.500.000 đồng). Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 23 ngày x 1.500.000 đồng = 34.500.000 đồng. Thực tế đã trả 16 ngày x 1.500.000 đồng = 24.000.000 đồng. Còn lại: 10.500.000 đồng. Ngày 02/4/2023, vay tiếp 30.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại, khoản vay tất toán. Như vậy, trong khoản vay này L thu lợi hợp pháp là 263.014 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 4.236.986 đồng, với lãi suất 0,94%/ngày, tương đương 342%/năm.
- Lần 7: Ngày 02/4/2023, thỏa thuận vay góp, vay 30.000.000 đồng trong 23 ngày, mỗi ngày 1.500.000 đồng (Đã dùng 10.500.000 đồng trả cho khoản nợ vay lần 6, thực tế nhận 19.500.000 đồng). Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 23 ngày x 1.500.000 đồng = 34.500.000 đồng. Thực tế đã trả 12 ngày x 1.500.000 đồng = 18.000.000 đồng. Còn lại 16.500.000 đồng. Ngày 16/4/2023, vay tiếp 50.000.000 đồng và trả đủ số tiền còn lại, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này, L thu lợi hợp pháp là 197.260 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 4.302.740 đồng, với lãi suất 1,25% /ngày, tương đương 456%/năm.
- Lần 8: Ngày 16/4/2023, thỏa thuận vay góp, vay 50.000.000 đồng trong 40 ngày, mỗi ngày 1.500.000 đồng (Đã dùng 16.500.000 đồng trả cho khoản nợ vay lần 7, thực tế nhận 33.500.000 đồng). Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 40 ngày x 1.500.000 đồng = 60.000.000 đồng. Thực tế đã trả 40 ngày x 1.500.000 đồng = 60.000.000 đồng, khoản vay đã tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 1.095.890 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 8.904.110 đồng, với lãi suất 0,50%/ngày, tương đương 183%/năm.
- Lần 9: Ngày 30/5/2023, thỏa thuận vay góp, vay 30.000.000 đồng trong 40 ngày, mỗi ngày 900.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 40 ngày x 900.000 đồng = 36.000.000 đồng. Thực tế đã trả 30 ngày x 900.000 đồng = 27.000.000 đồng (Trong đó số tiền gốc của L là 22.500.000 đồng). Còn lại 9.000.000 đồng (Trong đó, tiền gốc của L là 7.500.000 đồng). Ngày 30/6/2023 bị phát hiện và ngăn chặn, khoản vay chưa tất toán. Như vậy, trong lần nay này L thu lợi hợp pháp là 493.150 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 4.006.850 đồng, với lãi suất 0,50%/ngày, tương đương 183%/năm.
- Lần 10: Ngày 08/12/2022, thỏa thuận vay đứng, vay 20.000.000 đồng trong 33 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng. Đã trả lãi 33 ngày x 200.000 đồng 6.600.000 đồng. Sau đó, L đã nhận lại tiền gốc, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 361.644 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 6.238.336 đồng, với lãi suất 1%/ngày, tương đương 365%/năm.
- Lần 11: Ngày 11/01/2023, thỏa thuận vay đứng, vay 20.000.000 đồng, mỗi ngày trả 140.000 đồng. Thực tế đã trả 93 ngày x 140.000 đồng = 13.020.000 đồng. Sau đó, L đã nhận lại gốc, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 1.019.178 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 12.000.751 đồng, với lãi suất 0,7%/ngày, tương đương 255%/năm.
- Lần 12: Ngày 09/3/2023, thỏa thuận vay đứng, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày trả 120.000.000 đồng. Thực tế đã trả 24 ngày x 120.000 đồng = 2.880.000 đồng. Sau đó, L đã nhận lại gốc, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 131.507 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 2.748.493 đồng, với lãi suất 1.20%/ngày, tương đương 438%/năm.
- Lần 13: Ngày 01/6/2023, thỏa thuận vay đứng, vay 10.000.000 đồng, mỗi ngày trả 100.000 đồng. Thực tế trả 28 ngày x 100.000 đồng = 2.800.000 đồng. Sau đó, L đã nhận lại gốc, khoản vay tất toán. Như vậy, trong lần vay này L thu lợi hợp pháp là 153.425 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 2.646.575 đồng, với lãi suất 1%/ngày, tương đương 365%/năm.
Kết luận: L cho D1 vay 13 lần, các lần cho vay lãi suất đều vượt quá 100%/ năm, chia làm 02 kiểu vay là vay góp và vay đứng. Trong đó, số tiền được xác định là công cụ, phương tiện L cho D1 lãi nặng là 247.000.000 đồng (30.000.000 + 21.000.000 + 27.000.000 + 3.000.000 + 11.100.000 đồng + 22.500.000 + 19.500.000 + 33.500.000 + 30.000.000 + 20.000.000 + 20.000.000 + 10.000.000 + 10.000.000). Trong đó có 12 khoản vay đã tất toán, L đã nhận đủ tiền cho vay. Riêng tại khoản vay chưa tất toán (lần 9) còn lại 7.500.000 đồng tiền gốc Diệu chưa trả L. Tổng số tiền L thu lợi hợp pháp là 5.112.329 đồng, thu lợi bất chính là 69.187.671 đồng.
8. Nguyễn Thị Kim P:
Ngày 13/6/2023, thỏa thuận vay góp, vay 45.000.000 đồng trong 30 ngày, mỗi ngày phải đóng 1.800.000 đồng. Dự kiến số tiền gốc và lãi phải trả là 30 ngày x 1.800.000 đồng = 54.000.000 đồng. Thực tế đã trả 15 ngày x 1.800.000 đồng = 27.000.000 đồng (Trong đó 22.500.000 đồng tiền gốc). Còn lại 18.000.000 đồng (trong đó 12.500.000 đồng tiền gốc), khoản vay chưa tất toán và bị phát hiện ngăn chặn ngày 30/6/2023. Như vậy, trong lần vay này, L thu lợi hợp pháp là 369.863 đồng, thu lợi bất hợp pháp là 4.130.137 đồng, với lãi suất 0,67%/ngày, tương đương 243%/năm.
Vật chứng của vụ án:
- 01 tờ giấy vay nợ 200.000.000 đồng, người vay Đinh Thị D.
- 01 giấy vay nợ 100.000.000 đồng, người vay Hoàng Thị L2 và Trương Phúc L4.
- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH181046, đứng tên Trương Phước L3 (chồng của Hoàng Thị L2).
- 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y22S, màu xanh.
Tại Cơ quan Điều tra, Phí Thị Thu L khai nhận hành vi cho vay lãi nặng như trên. Ngoài những người vay tiền trên L còn cho một số người khác vay. Tuy nhiên, L cho vay không có giấy tờ nên không nhớ cụ thể từng người.
Về trách nhiệm dân sự: Những người vay đề nghị xử lý đúng quy định của pháp luật.
Cáo trạng số: 496/CT-VKSTPTĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phí Thị Thu L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phí Thị Thu L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
- Buộc bị cáo nộp lại tiền mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng đã thu về để sung quỹ nhà nước; đối với những khoản cho vay lãi nặng mà người vay chưa trả đủ tiền gốc cho bị cáo thì buộc những người này nộp số tiền gốc còn lại để sung quỹ nhà nước; tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu để sung quỹ nhà nước; tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu về để trả lại cho những người vay.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo chỉ vì tham lam nhất thời và không hiểu biết pháp luật. Hiện bị cáo đang các bị bệnh như: ung thư cổ tử cung, hở van tim, thiếu máu cục bộ, thoái hóa cột sống lưng cổ... Bên cạnh đó, bị cáo hiện đang nuôi mẹ già và con nhỏ nên rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Từ tháng 8/2022 đến tháng 6/2023, Phí Thị Thu L đã thực hiện việc cho vay tiền với lãi suất cao từ 39%/năm đến 730%/năm để thu lợi bất chính. Tổng số tiền L đã thu lợi bất chính đối với các khoản vay có lãi suất vượt quá 100%/năm (Gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự) là 311.879.078 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và xâm phạm đến lợi ích của công dân. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên đã cố ý thực hiện hành vi với tổng số tiền đã thu lợi bất chính là 311.879.078 đồng. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Ngoài những người vay tiền trên L còn cho một số người khác vay. Tuy nhiên, L cho vay không có giấy tờ và những khoản vay đó L không đòi nữa nên không nhớ thông tin và nhân thân người vay, người vay cũng không lên trình báo nên chưa có căn cứ xử lý.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Tổng số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính là 311.879.078 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Căn cứ khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì việc bị cáo thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, trong đó có 01 lần thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng, các lần khác đều thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo hiện đang điều trị các bệnh như: ung thư cổ tử cung, hở van tim, thiếu máu cục bộ, thoái hóa cột sống lưng cổ và đang nuôi con nhỏ nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế vì mục đích vụ lợi, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy theo quy định của pháp luật, bị cáo phải nộp lại khoản tiền dùng để cho vay, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu để sung quỹ nhà nước; tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu để trả lại cho những người vay nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 tờ giấy vay nợ 200.000.000 đồng, người vay Đinh Thị D; 01 giấy vay nợ 100.000.000 đồng, người vay Hoàng Thị L2 là tang vật, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH181046 do bị cáo cầm của chị Hoàng Thị L2 nên trả lại cho chị L2.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y22S, màu xanh là phương tiện bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về xử lý tiền liên quan đến việc phạm tội:
- Buộc bị cáo nộp lại 600.500.000 đồng là tiền mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng đã thu về để sung quỹ nhà nước.
- Đối với những khoản cho vay lãi nặng mà người vay chưa trả đủ tiền gốc cho bị cáo thì buộc những người này nộp lại số tiền gốc còn lại để sung quỹ nhà nước.
- Buộc bị cáo nộp lại 34.020.822 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay để sung quỹ nhà nước.
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền 311.879.078 đồng đã thu lợi bất chính để trả lại cho người vay.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phí Thị Thu L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Phí Thị Thu L: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về xử lý tiền liên quan đến việc phạm tội: Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
- Buộc bị cáo nộp lại 600.500.000 đồng là tiền mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng đã thu về để sung quỹ nhà nước.
- Đối với những khoản cho vay lãi nặng mà người vay chưa trả đủ tiền gốc cho bị cáo thì buộc những người này nộp số tiền gốc còn lại để sung quỹ nhà nước, cụ thể: Buộc chị Đinh Thị D nộp lại số tiền 200.000.000 đồng; chị Hoàng Thị L2 số tiền 100.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Đ số tiền 4.500.000 đồng; chị Hoàng Thị D1 số tiền 7.500.000 đồng; chị Nguyễn Thị Kim P số tiền 12.500.000 đồng.
- Buộc bị cáo nộp lại 34.020.822 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay để sung quỹ nhà nước.
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền 311.879.078 đồng đã thu lợi bất chính để trả lại cho những người vay, cụ thể trả lại cho: chị Võ Thị Yến L1 số tiền 11.972.503 đồng; chị Đinh Thị D số tiền 160.000.000 đồng; chị Hoàng Thị L2 số tiền 9.147.945 đồng; chị Nguyễn Thị Đ số tiền 1.009.589 đồng; chị Phan Thị Diễm H số tiền 24.265.754 đồng; chị Trần Thị G số tiền 32.165.479 đồng; chị Hoàng Thị D1 số tiền 69.187.671 đồng; chị Nguyễn Thị Kim P số tiền 4.130.137 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y22S, màu xanh.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK24/083C ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- Trả lại cho chị Hoàng Thị L2: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH181046 đứng tên Trương Phước L3 (chồng của chị Hoàng Thị L2), đang lưu kèm hồ sơ vụ án.
5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo rõ)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 551/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự)
- Số bản án: 551/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phí Thị Thu L phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
