Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 551/2024/DS-PT

Ngày 13-9-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng;

Bà Kiều Kim Xuân;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Được - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 381/2024/TLPT-DS ngày 31/7/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 534/2024/QĐ-PT ngày 08/8/2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Trịnh Thanh T, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1965;
  2. Ông Châu Phú C, sinh năm 1986;

Cùng địa chỉ: Số A, Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, ông Châu Phú C là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D và người đại diện hợp pháp là chị Trịnh Thanh T trình bày:

Khoảng tháng 10/2019 dương lịch, bà Nguyễn Thị Cẩm H vay của chị Nguyễn Thị D số tiền là 250.000.000 đồng, việc vay tiền thỏa thuận miệng, không thỏa thuận lãi suất và thời hạn trả, chị D giao đủ tiền vay cho bà H. Khoảng mùng 10 Tết Nguyên Đán năm 2020 nhằm ngày 03/02/2020 dương lịch, anh C vay của chị D số tiền 200.000.000 đồng, việc vay tiền thỏa thuận miệng, không thỏa thuận lãi suất và thời hạn trả, chị D giao đủ tiền vay cho anh C.

Ngày 22/02/2020 dương lịch, anh Nguyễn Văn T1 là em ruột chị D cùng ông Phan Văn L là dượng của chị D thay mặt chị D đến nhà bà H, anh C đòi tiền vay tổng cộng 450.000.000 đồng. Trên đường đi, anh T1 và ông L gặp anh C thì anh C ngăn lại và đồng ý cùng bà H nhận nợ số tiền 450.000.000 đồng nêu trên tại Giấy nợ ngày 22/02/2020, ông L ghi nội dung, bà H, anh C có đọc lại nội dung thống nhất giấy nợ ghi đúng nội dung mới ký tên vào, anh T1 và ông L không có ép buộc bà H, anh C ký tên.

Nay chị D kiện yêu cầu bà H, anh C liên đới trả tiền vay gốc 450.000.000 đồng, tiền lãi với lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 22/02/2020 đến ngày 22/11/2023 là 336.150.000 đồng, tổng cộng 786.150.000 đồng; yêu cầu tiếp tục trả lãi với lãi suất 1,66%/tháng đến khi trả xong.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị D yêu cầu bà H, anh C liên đới trả tiền vay gốc là 450.000.000 đồng, rút yêu cầu về trả lãi.

- Bị đơn anh Châu Phú C trình bày:

Bà H là mẹ ruột anh C, chị D là vợ trước đây của anh C, vợ chồng ly hôn vào năm 2016, Tòa án giải quyết giao 02 con chung cho anh C nuôi dưỡng, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con do anh C không yêu cầu và chị D không tự nguyện cấp dưỡng.

Khoảng tháng 10/2019 dương lịch, anh C mượn của chị D số tiền 250.000.000 đồng. Việc vay tiền thỏa thuận miệng, không thỏa thuận trả lãi và thời hạn trả, sau đó chị D đã giao đủ tiền cho anh C. Đến Tết Nguyên Đán năm 2020, anh C mượn thêm của chị D số tiền 200.000.000 đồng. Việc vay tiền thỏa thuận miệng, không thỏa thuận trả lãi và thời hạn trả, chị D đã giao đủ tiền cho anh C.

Ngày 22/02/2020 dương lịch, trên đường đi anh C gặp anh T1 và ông L định đến nhà anh C đòi tiền anh C mượn của chị D, do anh C sợ cha anh C biết sẽ rầy la anh C, nên anh C đề nghị đến quán nước tại Chợ Đ, tại đây hai bên bàn về số tiền vay tổng cộng là 450.000.000 đồng và ông L ghi nội dung giấy nợ, anh C có đọc sơ lại nội dung, còn bà H có đọc nội dung giấy nợ này không thì anh C không biết, khi đó chị D đang ở Hàn Quốc, 02 con chung đang sống với anh C. Chữ ký, dấu lăng tay trong giấy nợ là của anh C và bà H nhưng do anh T1, ông L ép buộc vì đe đọa chị D sẽ bắt lại 02 con chung.

Anh C mượn chị D số tiền 450.000.000 đồng là để nuôi con chung của anh C và chị D, không có khoản tiền nào chị D cấp dưỡng nuôi con và đây không phải nợ chung của anh C với bà H.

Nay anh C chỉ đồng ý trả cho chị D số tiền 200.000.000 đồng.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:

Chị D là con dâu, anh C là con trai của bà H. Trước đây, chị D có nhu cầu đi lao động nước ngoài nên chị D và con trai bà anh C mới thỏa thuận ly hôn. Sau khi ly hôn, vào năm 2020, chị D nói với bà H là muốn chị D để con lại cho bên nội nuôi thì bà H phải làm giấy tờ cho đất cháu nội và khi chưa làm giấy tờ cho đất cháu thì bà H phải ký tên vào biên nhận nợ cho chị D để chị D an tâm giao cháu lại, đồng thời khi nào bà H làm giấy tờ cho đất cháu xong thì chị D sẽ hủy bỏ giấy này. Do cháu còn nhỏ không nhận được tài sản bà H tặng cho là quyền sử dụng đất được nên chị D yêu cầu bà H trả 450.000.000 đồng mà bà đã ký vào biên nhận nợ cho chị D để chị D an tâm giao cháu lại là Giấy nợ ngày 22/02/2020, thực tế bà H không có nhận 450.000.000 đồng của chị D. Nay bà H không đồng ý trả cho chị D số tiền là 450.000.000 đồng.

Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm H, anh Châu Phú C có trách nhiệm trả cho chị D tiền vay còn nợ là 450.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm H, anh Châu P C trả tiền lãi.

Về án phí:

Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm H, anh Châu Phú C chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 22.500.000 đồng. Trả cho chị Nguyễn Thị D tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.723.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004378 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H, anh Châu Phú C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt chị T, anh C; bà H vắng mặt không có lý do. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án.

Anh C trình bày: Do khi li hôn chị D và anh C không có thỏa thuận việc anh C nuôi con, chị D sẽ cấp dưỡng hỗ trợ nuôi 02 con. Chỉ làm li hôn để chị D đi xuất khẩu lao động, số tiền 450.000.000 đồng này là số tiền chị D đưa để nuôi con. Do anh T1, ông L đòi tiền sợ cha tôi (ông Châu Văn R) biết nên tôi và mẹ tôi bà H không ký nhận nợ. Bà H không có nhận tiền. Việc bà H nhận nợ vì sợ chị D bắt cháu lại giao cho anh T1 nuôi.

Chị T trình bày: Lời trình bày của anh C là không đúng sự thật vì chị D không có thỏa thuận nào cho số tiền 450.000.000 đồng để anh C nuôi con, không có việc ép buộc để chị D bắt con lại giao cho anh T1 nuôi nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm H, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Châu Phú C; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng.

[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa quyết định:

Xét yêu cầu của nguyên đơn chị D về yêu cầu bà H, anh C trả tiền vốn vay 450.00.000 đồng, rút yêu cầu về trả lãi.

Căn cứ Giấy nợ đề ngày 22/02/2020 thể hiện bà H, anh C có nợ của chị D số tiền 450.00.000 đồng, không xác định lãi suất và thời hạn trả.

Bà H, anh C trình bày bị ép buộc ký tên vào giấy nợ ngày 22/02/2020 để chị D giao 02 con chung của chị D và anh C cho anh C nuôi dưỡng. Tuy nhiên bà H, anh C không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Mặt khác, anh C thừa nhận có mượn của chị D số tiền tổng cộng là 450.000.000 đồng.

Do đó, chị D yêu cầu bà H, anh C trả tiền vốn vay còn nợ là 450.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Về tiền lãi, do chị D xin rút yêu cầu nên đình chỉ đối với yêu cầu này của chị D.

[3] Đồng thời căn cứ vào nội dung quyết định các đương sự phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm thì bà H, anh C kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm và không cung cấp thêm chứng cứ gì mới.

[5] Tại các phiên tòa phúc thẩm, các đương sự xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự không còn chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy về mối quan hệ các đương sự trong vụ án. Bà H là mẹ ruột anh C, chị D là vợ trước đây của anh C, vợ chồng ly hôn vào năm 2016, Tòa án giải quyết giao 02 con chung cho anh C nuôi dưỡng, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con do anh C không yêu cầu và chị D không tự nguyện cấp dưỡng.

Khoảng tháng 10/2019 dương lịch, anh C mượn của bà H số tiền 250.000.000 đồng. Đến khoản tháng 01 năm 2020, anh C mượn thêm của chị D số tiền 200.000.000 đồng. Việc vay tiền thỏa thuận miệng, không thỏa thuận trả lãi và thời hạn trả.

Sau đó do chị D đang ở Hàn Quốc. Ngày 22/02/2020 anh T1 (em chị D) và ông L (dượng tám chị D, anh T1) đòi số tiền vay tổng cộng là 450.000.000 đồng. Khi gặp bà H, anh C thì ông L ghi nội dung giấy nợ, anh C có đọc nội dung. Chữ ký, dấu lăng tay trong giấy nợ là của anh C và bà H.

Bà H, anh C thống nhất nội dung giấy nợ ngày 22/2/2020 và có ký tên lăn tay. Nhưng anh C cho rằng do anh T1, ông L ép buộc vì đe dọa chị D sẽ bắt lại 02 con chung. Anh C mượn chị D số tiền 450.000.000 đồng là để nuôi con chung của anh C và chị D và đây không phải nợ chung của anh C với bà H.

Bà H kháng cáo cho rằng năm 2020, chị D nói với bà H là muốn chị D để con lại cho bên nội nuôi thì bà H phải làm giấy tờ cho đất cháu nội và khi chưa làm giấy tờ cho đất cháu thì bà H phải ký tên vào biên nhận nợ cho chị D để chị D an tâm giao cháu lại. Do chưa nhận được tài sản bà H tặng cho quyền sử dụng đất được nên chị D yêu cầu bà H trả 450.000.000 đồng mà bà đã ký vào biên nhận nợ cho chị D để chị D giao cháu lại là giấy nợ ngày 22/02/2020. Thực tế bà H không có nhận 450.000.000 đồng của chị D nên bà H không đồng ý trả cho chị D số tiền là 450.000.000 đồng. Anh C kháng cáo cho rằng số tiền này là chị D đưa cho anh để hỗ trợ nuôi con, anh ký tên nhận nợ tiền vì nếu anh không ký tên nhận nợ chị D sẽ bắt con lại giao cho anh T1 nuôi dưỡng. Lời trình bày này của anh C không có căn cứ chứng minh, không phù hợp thực tế. Bà H1 vắng mặt nên đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bà H; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh C do anh C yêu cầu kháng cáo nhưng không có gì chứng minh được yêu cầu này.

[6] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm H; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Châu Phú C; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên bà H, anh C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm H.
  • - Không chấp nhận kháng cáo của anh Châu Phú C.
  • - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.
    • Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm H, anh Châu Phú C có trách nhiệm trả cho chị D tiền vay còn nợ là 450.000.000 đồng.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    • Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm H, anh Châu P C trả tiền lãi.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm H, anh Châu Phú C chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 22.500.000 đồng.
    • Trả cho chị Nguyễn Thị D tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.723.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004378 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    • Bà Nguyễn Thị Cẩm H, anh Châu Phú C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006708 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Bà H, anh C không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng KTNV và THA TAT;
  • - TAND huyện Thanh Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 551/2024/DS-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 551/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Thị Diệu BĐ: Nguyễn Thị Cẩm Hường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger