|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 551/2024/HS-ST Ngày: 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Trần Đăng Vạn
- - Ông Võ Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đ – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 509/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 8678/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T; Sinh ngày 16 tháng 11 năm 1975; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Số A Đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S, sinh năm 1930 (chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1942; Gia đình có bốn anh chị em, bị cáo là con út; Có vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976; Có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/02/1999, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 02/10/1998. Ngày 13/7/1999, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm tuyên y án. Ngày 14/5/2002, bị Tòa án nhân dân Quận 2 xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2002. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc T2, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Ấp V, V, Hòa Bình, Bạc Liêu (Có Đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự).
2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Em Nguyễn Bảo D, sinh năm 2008
- Địa chỉ: 207/51/47 N, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của em Nguyễn Bảo D là bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976, địa chỉ 207/51/47 N, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là mẹ đẻ của Nguyễn Bảo D (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Thiện H, sinh năm 1977
- Địa chỉ: A K, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- - Ông Trần Văn D1, sinh năm 1990
- Địa chỉ: 207/51/47 N, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/12/2023, anh Trần Văn D1 cùng anh Nguyễn Thiện H, anh Huỳnh Ngọc T2 và các anh T3, D2 (bạn của anh H) nhậu trước phòng trọ số 01 địa chỉ số B, Đường N, phường T, thành phố T. Khi đang nhậu, thì Trần Văn T là hàng xóm kế bên, thấy mọi người đang nhậu nên cầm 01 chai rượu 0,5 lít bằng nhựa sang nhậu cùng. Lúc này, anh T3, D2 đi về trước, còn lại anh D1, H, T2 và T nhậu tiếp, trong lúc nhậu, T, T2 có cự cãi với nhau. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, anh D1, H, T2 và T nghỉ nhậu, trong lúc dọn dẹp ly, chén, thì T lúc này đang ngồi bên tay phải của anh T2 (cách khoảng 40cm) do tức giận việc cự cãi với anh T2 nên T dùng tay phải cầm ly thủy tinh uống bia (loại ly hình trụ tròn, cao khoảng 10 cm, đường kính miệng ly khoảng 8cm) để ở hiên nhà trước phòng số 01, đánh 01 cái theo chiều ngang từ phải qua trái và trúng vào phần trán bên phải của anh T2, gây thương tích. Do bị đánh bất ngờ, anh T2 lấy 01 thanh nhôm kích thước 01m x 06 cm quơ qua lại phía trước. Thấy có sự việc đánh nhau Nguyễn Bảo D là con trai của T đến can ngăn thì bị anh T2 đánh T4, nhưng không gây ra thương tích. Sau đó, mọi người xung quanh xúm lại can ngăn, anh T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1. Anh H đến Công an phường trình báo sự việc.
Ngày 29/12/2023, anh Huỳnh Ngọc T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Văn T khai nhận nội dung sự việc như trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 máng nhôm có kích thước 1.5 m x 10 cm.
- - Nhiều mảnh vỡ thủy tinh (ly thủy tinh).
Nguyễn Bảo D và bà Nguyễn Thị T1 có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự (BL: 53).
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 08/KLTTCT-TTPY 2024 ngày 17/01/2024 của Trung tâm pháp y, Sở y tế Thành phố H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Ngọc T2 tại thời điểm giám định là 16%, các thương tích trên do vật tày tác động gây ra, ly thủy tinh như Cơ quan điều tra cung cấp có thể gây ra được chấn thương như trên.
Xét nghiệm ma túy: T dương tính với MOP.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Huỳnh Ngọc T2 không yêu cầu bồi thường về dân sự (Bút lục 81, 82).
Cáo trạng số 474/CT-VKSTPTĐ ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như Bản cáo trạng số 474/CT-VKSTPTĐ ngày 01/10/2024 và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Thanh nhôm và nhiều mảnh vỡ thủy tinh.
- - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ khai báo thành khẩn, nhận tội, ăn năn hối hận và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Bảo D không có ý kiến yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T, trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng,
cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Bản ảnh hiện trường; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 08/KLTTCT-TTPY.2024 ngày 17/01/2024 của Trung Tâm P thuộc Sở Y Tế Thành phố H; Các tang vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/12/2023 tại trước phòng trọ số 01 địa chỉ tại B Đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc ăn nhậu Trần Văn T đã thực hiện hành vi dùng ly thủy tinh đánh 01 cái vào phần trán bên phải gây thương tích cho anh Huỳnh Ngọc T2 theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 08/KLTTCT-TTPY.2024 ngày 17/01/2024 của Trung Tâm P thuộc Sở Y Tế Thành phố H thì anh T2 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 16%. Là Trần Văn T đã phạm Tội “Cố ý gây thương tích” trong trường hợp quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Trần Văn T là người có nhân thân xấu, vào năm 1998 và năm 2002, đã từng bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Tòa án nhân dân Quận 2 xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo không lấy đó làm bài học. Bị cáo hoàn toàn biết rõ công dân được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, tính mạng và nếu không được pháp luật cho phép thì không ai được quyền xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của người khác, nhưng chỉ vì duyên cớ nhỏ nhặt mà xem thường các nguyên tắc xử sự thông thường của cuộc sống bị cáo đã có hành vi dùng ly thủy tinh đánh anh T2 với tỷ lệ thương tích cho anh T2 là 16%. Tội phạm do bị cáo Trần Văn T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ và làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của người dân xung quanh. Tuy nhiên cũng xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn có thái độ ăn năn hối hận. Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cần áp dụng: điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa, đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận một phần.
[4] Đối với vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
- - Tịch thu tiêu hủy: Nhiều mảnh vỡ thủy tinh; 01 Thanh nhôm dài 1,5m x10cm, bị gấp khúc
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, do đó Tòa án không phải giải quyết về bồi thường dân sự cho bị hại.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa, đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm Tội “Cố ý gây thương tích".
2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa, đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Trần Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024
3. Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
3.1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
- - Tịch thu tiêu hủy: Nhiều mảnh vỡ thủy tinh; 01 Thanh nhôm dài 1,5m x10cm, bị gấp khúc.
(Tài sản tịch thu tiêu hủy được ghi trong lệnh nhập kho vật chứng số 794/LNK-ĐTTH ngày 20/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T)
4. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Viết Nghiêm |
5
Bản án số 551/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 551/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xứ sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 509/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024,
