Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 550/2024/HS-ST

Ngày 30 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Ông Nguyễn Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 546/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 543/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986 tại tỉnh Quảng Nam;

Nơi đăng ký thường trú: khu phố X, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở trước khi bị bắt: Công ty Đ, thuộc khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Lê Thị M, sinh năm 1967; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất, bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 15/5/2009, Q bị Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Buộc Q phải nộp 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) án phí theo bản án số 37/2009/HSST. Quý chấp hành xong bản án ngày 19/01/2011.

- Ngày 18/9/2012, Q bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 21 (hai mốt) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt Q phải chấp hành 03 năm 03 tháng tù. Buộc Q phải nộp 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng) án phí theo bản án số 187/2012/HSPT. Ngày 19/12/2014, Q chấp hành xong bản án.

- Ngày 26/5/2016, Q bị Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Buộc Q phải nộp 867.000₫ (T trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) án phí và bồi thường thiệt hại về thương tích cho anh Nguyễn Ngọc D số tiền 13.344.000đ (Mười ba triệu ba trăm bốn bốn nghìn đồng) theo bản án số 47/2016/HSST. Ngày 29/04/2018, Q chấp hành xong hình phạt tù. Đến tháng 11/2022, Q chấp hành xong án phí. Về phần bồi thường dân sự do anh D không có đơn yêu cầu thi hành án đến nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/5/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 1056/LTG ngày 04/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Phước T1, sinh năm 1984

Địa chỉ: tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn Ầ, sinh năm 1987

Địa chỉ: A, tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 26/5/2024, Nguyễn Văn Q đến quán F tại tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B nhậu với một số người bạn tại phòng số 2. Cùng lúc này, có anh Nguyễn Phước T1 (sinh năm 1984, ngu tại tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B) và anh Mai Văn Ầ (sinh năm 1987, ngụ tại A, tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B) đang ăn nhậu tại phòng số 3. Do Q nhiều lần đi nhầm vào phòng số 3 của anh T1 và anh Ầ nên anh T1 có nhắc nhở Q dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại với nhau. Sau đó anh Ầ và anh T1 tính tiền đi về, khi anh Ầ đang tính tiền thì giữa Q và anh Ầ tiếp tục xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại với nhau thì được chị Phan Tường D1 can ngăn nên cả hai dừng lại.

Sau đó, anh T1 và anh Ầ ra quán đối diện để tiếp tục ăn nhậu. Khi Q đi ra khỏi quán thấy anh Ầ và anh T1 ngồi quán đối diện nên Q cho rằng anh T1 và anh Ầ ngồi đợi để đánh mình nên Q đi về bãi giữ xe của Công ty Đ thuộc khu phố C, phường B, thành phố B lấy 01 (một) nỏ bắn bi màu đen dài khoảng 60cm và 02 con dao tự chế (01 con dao dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ; 01 con dao dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại trên lưỡi dao có khắc các lỗ, cán bằng gỗ). Q cho 02 con dao tự chế vào trong túi vải dài 70cm đeo trên vai, trên tay cầm 01 cây nỏ bắn bi và khoảng 04 đến 05 viên bi sắt đến để tìm đánh anh T1 và anh Ầ.

Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, Q quay lại chỗ anh T1 và anh Ầ. Thấy Q cầm nó bắn bi đi về phía mình nên anh T1 và anh Ầ đi lại chỗ Q để nói chuyện thì Q dùng nó bắn về phía anh T1 và anh Ầ nhưng không trúng. Lúc này, anh Lê Minh H (sinh năm 1980, thường trú tại 138/48/67, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đến can ngăn và chụp lấy nỏ của Q nên Q vứt nỏ bắn bi rồi bỏ chạy. Anh T1 và anh Ầ đuổi theo Q. Khi đến trước quán T thuộc tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B thì Q bị vấp ngã. Lúc này anh Ầ cầm 01 ghế nhựa màu xanh, anh T1 cầm 01 cục đá kích thước 20cm x 20cm nặng 10kg đến đuổi đánh Q. Q tiếp tục bỏ chạy vòng vòng quanh quán “Thảo A”, vừa chạy Q vừa lấy 02 con dao tự chế trong túi ra thì bị rơi. Q nhặt con dao tự chế dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại trên lưỡi dao có khắc các lỗ chém trúng vào tay phải và tay trái của anh T1 gây thương tích. Trong lúc Q chém anh T1 thì anh Ầ cầm ghế nhựa đánh nhiều cái vào người của Q. Ngay lúc này lực lượng Công an phường H có mặt bắt quả tang Q và đưa anh T1 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ điều trị. Hậu quả: Anh Nguyễn Phước T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 14% (Mười bốn phần trăm), Nguyễn Văn Q bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 04% (Bốn phần trăm). Quá trình điều tra Nguyễn Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như trên.

(Biên bản bắt người phạm tội quả tang lục số: 01-04; Biên bản kiểm tra dữ liệu Camera bút lục số 12-13; Lời khai bị can, bút lục số: 87-98; lời khai bị hại, bút lục số: 149-154; lời khai người làm chứng, bút lục số: 157-174)

Vật chứng:

  • - 01 (Một) nỏ bắn bi màu đen dài khoảng 60cm; 01 (Một) con dao tự chế dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ; 01 (Một) con dao tự chế dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại trên lưỡi dao có khắc các lỗ, cán bằng gỗ; 01 (Một) bao vải màu đen dài khoảng 70cm thu giữ của Nguyễn Văn Q. (bút lục: 178)
  • - 01 (Một) cục đá kích thước 20cm x 20cm nặng 10kg do Nguyễn Phước T1 dùng đánh nhau với Q.
  • - 01 (Một) ghế nhựa màu xanh đã bị bể, gãy 02 chân trước do Mai Văn Ầ dùng đánh nhau với Q. (bút lục: 181)
  • - 01 (Một) USB chứa 02 đoạn Video ghi diễn biến nội dung vụ án được lưu giữ tại hồ sơ. (Bút lục: 179)

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0510/KLTTCT-TTPYĐN ngày 30/5/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận anh Nguyễn Phước T1 bị tổn thương như sau:

  • - Vết thương 1/3 giữa mặt sau trong cẳng tay phải kích thước 07x0,2cm. Tỷ lệ: 02%.
  • - Vết mổ cẳng tay phải kích thước 02x0,2cm. Tỷ lệ: 01%
  • - Vết mổ cẳng tay phải kích thước 02x0,2cm. Tỷ lệ: 01%
  • - Vết thương 1/3 giữa mặt trong cẳng tay trái kích thước 03x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.
  • - Vết thương 1/3 trên mặt trong cẳng tay trái kích thước 2,5x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.
  • - Vết thương 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái kích thước 2,5x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Phước T1 - 1984 tại thời điểm giám định là: 07% (Bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư. Vật gây thương tích: Vật sắc hoặc vật sắc nhọn.

Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định bổ sung sau khi 3 bệnh nhân điều trị ổn định và xuất viện để xác định đầy đủ các tổn thương và di chứng kèm theo tổn thương nếu có. (Bút lục: 40-42)

* Tại bản kết luận giám định bổ sung về thương tích số 0621/KLTTCT ngày 28/6/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận anh Nguyễn Phước T1 bị tổn thương như sau:

Đã được Trung Tâm P giám định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể trên người sống của Nguyễn Phước T1 - 1984 tại thời điểm giám định trong bản kết luận 0510/KLTTCT-TTPYĐN ngày 30/5/2024.

Phần giám định bổ sung:

  • - Mẻ xương trụ phải. Tỷ lệ: 03%.
  • - Vết thương cẳng tay phải đứt gân cơ gấp cổ tay trụ, đứt một phần gân gấp sâu các ngón đã được phẫu thuật khâu nối gân cơ hiện để lại hạn chế vận động gập duỗi cổ tay phải. Tỷ lệ: 05%.

Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Phước T1 - 1984 tại thời điểm giám định bổ sung là: 14% (Mười bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư. (Bút lục: 43-44)

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0569/KLTTCT-TTPYĐN ngày 24/6/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận anh Nguyễn Văn Q bị tổn thương như sau:

  • - Sẹo mặt trước cánh khuỷu tay phải kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%. Sẹo 1/3 dưới mặt sau cánh tay phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%.
  • - 03 vết biến đổi sắc tố da vùng bả vai phải, bả vai trái và lưng phải. Tỷ lệ: 01%.
  • - Không định tỷ lệ cho chấn thương cổ và vết rách da khuỷu phải đã khỏi hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng đến chức năng.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám đính pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Q - 1986 tại thời điểm giám định là: 04% (Bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư. Vật gây thương tích: Vật tày hoặc vật tày có cạnh. (Bút lục số: 46-47)

Quá trình điều tra: Nguyễn Văn Q không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc Q bị đánh gây thương tích. (Bút lục số: 184)

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Phước T1 không yêu cầu Nguyễn Văn Q phải bồi thường chi phí điều trị và các chi phí khác. (Bút lục số: 153).

Tại bản Cáo trạng số: 538/CT-VKSBH ngày 16/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) nỏ bắn bì màu đen dài khoảng 60cm; 01 (Một) con dao tự chế dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ; 01 (Một) con dao tự chế dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại trên lưỡi dao có khắc các lỗ, cán dao bằng gỗ; 01 (Một) bao vải màu đen dài khoảng 70cm. Về trách nhiệm dân sự: Do anh Nguyễn Phước T1 không yêu cầu bồi thường chi phí điều trị nên không xem xét, giải quyết. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình tranh tụng, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án và đã trình bày rõ nội dung không yêu cầu gì khác; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 40 ngày 26/5/2024, tại tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, do trong lúc ăn nhậu Nguyễn Văn Q nhiều lần đi nhầm vào phòng của các anh Nguyễn Phước T1 và Mai Văn Ầ nên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Sau đó anh T1 và anh Ầ đi sang quán đối diện để tiếp tục nhậu. Lúc này Q đi ra nhìn thấy anh T1 và anh Ầ ở quán đối diện thì Q cho rằng anh T1 và anh Ầ ngồi chờ đánh Q nên Q đi về bãi giữ xe của Công ty Đ thuộc khu phố C, phường B, thành phố B lấy 01 (một) nỏ bắn bi màu đen dài khoảng 60cm, 02 con dao tự chế và khoảng 04 đến 05 viên bi sắt đến để tìm đánh anh T1 và anh Ầ. Khi đến Q đã dùng 01 (Một) nỏ bắn bi màu đen dài khoảng 60cm bắn T1 nhưng không trúng. Thấy Q dùng nỏ bắn về phía mình thì T1 cầm 01 cục đá kích thước 20cm x 20cm nặng 10kg, Ả cầm 01 ghế nhựa màu xanh đánh nhau với Q. Q sử dụng 01 con dao tự chế dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại trên lưỡi dao có khắc các lỗ, cán dao bằng gỗ đến chém trúng vào tay trái và tay phải của anh T1 gây thương tích. Trong lúc Q dùng dao chém anh T1 thì Ẩ dùng ghế nhựa đánh vào người của Q gây thương tích. Hậu quả Nguyễn Phước T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương 14% (Mười bốn phần trăm), Nguyễn Văn Q bị thương tích với tỷ lệ tổn thương 04% (Bốn phần trăm).

Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo đã trưởng thành nên có đủ nhận thức hành vi vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì không kiềm chế được hành vi mà dùng nỏ bắn bi và dao tự chế gây thương tích cho bị hại như trên nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu là ngày 15/5/2009, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 37/2009/HSST; Ngày 18/9/2012, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 21 (hai mốt) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành 03 năm 03 tháng tù theo bản án số 187/2012/HSPT Ngày 19/12/2014; Ngày 26/5/2016, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.

Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Đối với Nguyễn Phước T1 và Mai Văn Ầ có hành vi dùng ghế nhựa và đá gây thương tích cho Nguyễn Văn Q với tỷ lệ thương tích là 04%. Tuy nhiên, Q không yêu cầu khởi tố vụ án, Công an thành phố B đã xử phạt hành chính đối với T1 và Ầ là đúng quy định.

Đối với 01 (Một) cục đá kích thước 20cmx20cm nặng 10kg và 01 (Một) ghế nhựa màu xanh đã bị bể, gãy 02. Nguyễn Phước T1 và Mai Văn Ầ dùng đánh nhau với Nguyễn Văn Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bàn giao cho đội Quản lý hành chính về Trật tự xã hội Công an thành phố B để xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) nỏ bắn bi màu đen dài khoảng 60cm; 01 (Một) con dao tự chế dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ; 01 (Một) con dao tự chế dài khoảng 50cm, có lưỡi dao bằng kim loại trên lưỡi dao có khắc các lỗ, cán dao bằng gỗ; 01 (Một) bao vải màu đen dài khoảng 70cm.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do anh Nguyễn Phước T1 không yêu cầu bồi thường chi phí điều trị nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích".

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao tự chế, dài khoảng 50cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ; 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 50cm, lưỡi dao bằng kim loại, trên lưỡi dao có khắc các lỗ, cán dao bằng gỗ; 01 (một) nỏ bắn bi màu đen, dài khoảng 60cm; 01 (một) bao vải màu đen dài khoảng 70cm.

(Các vật chứng trên đã được giao nhận theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa và Công an thành phố B).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Biên Hòa;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 550/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 550/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger