Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 550/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 10 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Chi.
  2. Ông Phạm Văn Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 521/2024/HSST ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 589/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Bùi Hữu D (Đức, Dư K), sinh năm: 1980; nơi thường trú: Tổ H, khu phố H, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 2/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Bùi K1, sinh năm 1952 và bà Lê Thị T (©); bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 06 anh chị em; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Năm 1999, Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa — Vũng Tàu tuyên xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành hình phạt tù ngày 23/4/2000, đã đóng án phí.
  • - Ngày 05/9/2001, Ủy ban nhân dân tỉnh B ra quyết định 7023/QĐ-UBND đưa vào trường G thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 11/6/2003.
  • - Ngày 26/9/2007, Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh xử phạt 23 năm tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2019, đã đóng án phí.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  • - Bị hại: Công ty TNHH K2.
  • - Địa chỉ: C H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19 tháng 4 năm 2024, Nguyễn Bùi Hữu D (sinh năm: 1980) cùng với bạn là Huỳnh Hoàng P (sinh năm: 1980) và một số người bạn của P đến quán K3 "Nga N" số 30A, H, phường L, thành phố T hát Karaoke. Khi ngồi hát tại Phòng 202, D không hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên của quán nên D tức giận cầm 5 ly bằng thủy tinh dùng để uống bia ném làm bể màn hình và làm hư hỏng ti vi trong phòng. Thấy vậy, P cùng với các bạn khuyên và can ngăn đưa D đi về. Đến ngày 20/4/2024, anh Trần Hữu P1 được Công ty TNHH K2 đến Công an phường L trình báo vụ việc.

Tại Cơ quan cảnh sát Điều tra, Nguyễn Bùi Hữu D đã thừa nhận hành vi như trên.

Kết luận định giá tài sản số 104-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 01 ti vi 65 inch, nhãn hiệu Led TV màu đen, trị giá 5.922.500 đồng.

Vật chứng:

  • - 01 ti vi 65 inch, nhãn hiệu Led TV (đã bị hư không sử dụng được).
  • - 01 USB chứa dữ liệu điện tử được trích xuất từ camera an ninh tại hiện trường ghi nhận vụ việc trên.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 23/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Thiên Q (đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH K2) 01 màn hình ti vi 65 inch, nhãn hiệu Led TV. Gia đình Nguyễn Bùi Hữu D đã bồi thường thiệt hại tài sản và thanh toán tiền sử dụng dịch vụ Karaoke cho Công ty TNHH K2 Nguyễn với số tiền 30.000.000 đồng. Đại diện công ty TNHH K2 không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 421/CT-VKSTP.TĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Bùi Hữu D về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bùi Hữu D từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với kết luận định giá tài sản bị thiệt hại, thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo rất ân hận về hành vi nóng giận, mất kiểm soát của mình. Bị cáo rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, hình ảnh camera, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19 tháng 4 năm 2024, Nguyễn Bùi Hữu D đã sử dụng 5 ly bằng thủy tinh dùng để uống bia ném làm bể màn hình, làm hư hỏng 01 chiếc ti vi 65 inch nhãn hiệu LED TV, trị giá 5.922.500 đồng tại Phòng 202 của Quán K3 "Nga N”, địa chỉ: Số C, H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, gây thiệt hại tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng không kiềm chế được bản thân, cố ý hủy hoại tài sản của bị hại có giá trị 5.922.500 đồng. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo hủy hoại có giá trị là 5.922.500 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, do đã sử dụng rượu bia trước đó, khi mâu thuẫn với nhân viên bị cáo không kiềm chế được bản thân nên đã làm hư hỏng, gây thiệt hại về tài sản, tuy nhiên sau đó bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bên cạnh đó, bị cáo cũng đã bị bắt tạm giam một thời gian đủ để nhận thức ra lỗi lầm của mình. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo mức án bằng với thời gian đã bị tạm giam cũng đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 ti vi 65 inch, nhãn hiệu Led TV (đã bị hư không sử dụng được) đã trả lại cho đại diện hợp pháp của Công ty TNHH K2 có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
  • - Đối với 01 USB chứa dữ liệu điện tử được trích xuất từ camera an ninh tại hiện trường ghi nhận vụ việc là dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH K2 đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bùi Hữu D phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Bùi Hữu D: 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2024, bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
    • - Căn cứ vào khoản 5 Điều 328 Bộ luật Hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Bùi Hữu D, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB chứa dữ liệu điện tử được trích xuất từ camera an ninh tại hiện trường ghi nhận vụ việc.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • - Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 550/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hủy hoại tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 550/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bùi Hữu D phạm tội "Hủy hoại tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger