Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày: 31/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng và bà Nguyễn Thị Phương Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 31/7/2024, tại phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 18/7/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Hồng H (tên gọi khác: Nguyễn Thị H), sinh năm 1984, tại thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi thường trú: Khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi tạm trú và nơi ở: Thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1960; Họ và tên chông: Đỗ Mạnh H3, sinh năm 1973 (đã ly hôn); Có 05 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền sự, Tiền án: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2016/HSST ngày 31/8/2016 của Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, áp dụng Điều 25 BLHS, xử miễn trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Thị Hồng H (được coi là không có án tích); Ngày 16/5/2017, Nguyễn Thị Hồng H bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo Quyết định số 194 ngày 16/5/2017 (Đã nộp phạt ngày 18/5/2017 - Đã được xoá).

Bị cáo không bị tạm giữ, không bị tạm giam, hiện tại ngoại và chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Nguyễn Anh T, sinh năm 2002, tại huyện T, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979; Họ và tên mẹ: Phạm Thị N, sinh năm 1983; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2021/HSST ngày 30/11/2021 của Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, xử phạt T 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 BLHS (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2023 - Chưa được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

3. Nguyễn Văn P, sinh năm 1991, tại huyện T, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Xuân H4, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1993 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 31/2022/HSST ngày 23/6/2022 của Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, xử phạt P 16 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2022 - Chưa được xoá án tích); Nhân thân: Ngày 24/11/2015, Nguyễn Văn P bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép, theo Quyết định số 09 ngày 24/11/2015 (Đã nộp phạt ngày 25/11/2015 - Đã được xoá); Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06 ngày 26/9/2018 của TAND huyện Tứ Kỳ (chưa chấp hành – đã được xóa).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1982. Vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989. Vắng mặt.
  3. Ông Đoàn Văn T4, sinh năm 1965. Vắng mặt.
  4. Chị Phạm Thị T5, sinh năm 1985. Vắng mặt.
  5. Bà Phạm Thị P1, sinh năm 1970. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Hồng H, Nguyễn Anh T và Nguyễn Văn P là bạn bè và cùng là người sử dụng ma tuý đá (tên khoa học là Methamphetamine). Ngày 27, 28/12/2023, T rủ bạn gái là chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989, trú tại: Thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh đến chơi và ở lại nhà H tại thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Đến sáng ngày 29/12/2023, H gọi điện nhờ P điều khiển xe mô tô chở đi đến thành phố H có việc, sau đó H rủ P về nhà H chơi. Khi về đến nhà, có T đang ngồi ở phòng khách tại tầng 1. T3 đang trông con cho H trong phòng ngủ 2 tại tầng 2. Lúc này, H nói với T và P: “Nay chị còn ít gạo, chị bỏ ra mọi người cùng chơi rồi giải tán vì chồng chị đi trại (chấp hành án phạt tù), chuẩn bị về, sẽ không tụ tập nữa”. H, T, P đều hiểu ý H nói “Gạo” là ma tuý đá và hồng phiến nên đều đồng ý sử dụng. Sau đó, T ở dưới tầng 1 để nấu cơm. H và P đi lên phòng ngủ 1 giáp phòng thờ tại tầng 2 để ngồi chơi. Tại đây, H cầm túi thể thao màu đen đặt trong góc phòng lấy ra 01 túi ma tuý đá và 01 túi có nửa viên ma tuý hồng phiến. H chia nhỏ túi ma tuý đá ra 01 túi nilon khác rồi cất túi ma tuý này trong người để sử dụng sau. Khi chia xong, H đặt 02 túi ma tuý trên chiếu, cạnh bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa có phần nắp chai gắn với 01 coóng thuỷ tinh có sẵn tại phòng ngủ. Ngoài ra còn có 01 chiếc bật lửa nhãn hiệu “HOA VIỆT” và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn, cố định bằng sợi dây nịt, được dùng để hít chất ma tuý. Một lúc sau, T nấu cơm xong thì đi lên tầng 2 gọi mọi người xuống ăn cơm. T đi vào phòng ngủ 1 nơi có H và P đang ngồi chơi. Lúc này, H bảo T cho ma tuý vào trong C để đun nóng lên cho mọi người cùng sử dụng. T đồng ý và thực hiện. Sau khi đun nóng ma tuý, T đưa cho H và P sử dụng. Do T không sử dụng được loại ma tuý trộn nên T đi xuống tầng 1 ngồi chơi. Sau đó, H gọi T3 sang phòng ngủ 1 để sử dụng ma tuý. T3 đồng ý. Tại đây, Phương châm lửa rồi lần lượt đưa ống hút cho T3, H và bản thân cùng sử dụng ma tuý. T3 sử dụng ma tuý được khoảng 02 lần thì đi sang phòng ngủ 2 để trông con cho H. Lúc này, điện thoại của P hết pin. P tìm sạc điện thoại trong túi xách thể thao màu đen của H thì thấy bên trong túi xách thể thao có 01 hộp nhựa dạng hộp chỉ nha khoa. P thấy bên trong hộp nhựa có 03 túi nilon có chứa ma tuý nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt 01 phần ma tuý để sử dụng cho bản thân. Lợi dụng lúc H đang sử dụng điện thoại không để ý, P chia 01 phần ma tuý đá trong 01 túi nilon sang 01 túi nilon khác có sẵn trong túi thể thao rồi cất giấu túi ma tuý đá này vào trong quần lót đang mặc và quay lại chỗ ngồi. Sau đó, T tiếp tục gọi mọi người xuống ăn cơm. Ăn cơm xong, H, P, T, T3 đi lên phòng ngủ 1 ngồi chơi.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, có Phạm Văn Đ, sinh năm 1982, trú tại thôn A, xã D, huyện T, tỉnh Hải Dương, là bạn của H đến nhà chơi. T mở cửa cho Đ vào. H rủ Đ cùng sử dụng ma tuý. Đ đồng ý. Lúc này, tại phòng ngủ 1 có H, P, Đ, T. H đưa nốt túi ma tuý cất giấu trong người từ sáng cho T và bảo T đun nóng lên cho mọi người cùng sử dụng. Sau khi đun nóng ma tuý, T châm lửa lần lượt cho H, Đ sử dụng. Sau đó, T3 sang phòng ngủ 1, T châm lửa cho T3 và T sử dụng ma tuý. P tự châm lửa sử dụng ma tuý. Đến lượt thứ hai, T châm lửa cho T3 và H sử dụng. P và Đăng tự châm lửa sử dụng. Sau đó, Đ đi xuống tầng 1 ngồi chơi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi H, P, T, T3 đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an huyện G phát hiện bắt quả tang. Thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 (một) túi nilon màu trắng trong, kích thước 1,5cm x 2cm có viền khoá màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng - hồng, bên trong quần lót Nguyễn Văn P đang mặc. P khai nhận là ma túy đá, P lấy trộm của H, để sử dụng cho bản thân. Được niêm phong ký hiệu M1.
  • Thu giữ trên mặt chiếu trúc trong phòng ngủ 1:
    • 03 túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ, trong đó 02 túi có kích thước 2,5x2,5cm, 01 túi có kích thước 1,5x2,5cm. Bên trong 03 túi đều chứa chất bám dính dạng tinh thể màu trắng. H khai nhận là 03 túi nilon có chứa ma tuý đá đã đổ ma tuý ra để sử dụng. Được niêm phong ký hiệu M2.
    • 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng, được cuộn tròn thành ống hút, được buộc bằng 01 sợi nịt màu vàng, mặt tờ tiền có bám dính tinh thể màu trắng. Được niêm phong trong bì thư ký hiệu T6
    • 01 chai nhựa, thân chai có dòng chữ "HỒ VẰN", bên trong có chứa chất lỏng trong suốt, nắp chai màu vàng, đục 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ gắn với 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ được gắn với ống thuỷ tinh màu trắng có bầu tròn, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng đục. 01 bật lửa gas màu trắng, có dòng chữ "HOA VIỆT". H khai nhận là dụng cụ để sử dụng ma tuý đá. Được niêm phong trong túi ký hiệu C.
  • Thu giữ bên trong túi xách thể thao màu đen được đặt trên mặt chiếu trúc trong phòng ngủ 1: 01 hộp nhựa màu trắng, kích thước 3x6x9cm, dạng hộp chỉ nha khoa, bên trong hộp có: 01 túi nilon màu trắng, kích thước 2x2,5cm, viền khoá màu xanh dương, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng hồng. 01 túi nilon màu trắng, kích thước 2,5x2,5cm, viền khoá màu đỏ, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng hồng. 01 túi nilon màu trắng, kích thước 1,5x2cm, viền khoá màu đỏ, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu hồng. Được niêm phong trong bì thư ký hiệu M3.
  • Thu giữ 01 chiếc chiếu trúc màu nâu, kích thước 1,75x2m và 01 chiếc túi xách thể thao màu đen, có dòng chữ "ADIDAS" màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 63/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H đã kết luận:

  • Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng hồng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, gửi đến giám định khối lượng là 0,143 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
  • Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong 03 (ba) túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, gửi đến giám định, là ma túy loại Methaphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
  • Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng hồng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh dương được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3, gửi đến giám định khối lượng là 0,192 gam là ma túy loại Methamphetamine.
  • Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng hồng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3, gửi đến giám định khối lượng là 0,177 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
  • Chất bột (dạng cục) màu hồng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,052 gam là ma túy loại Methamphetamine.
  • Chất tinh thể màu trắng bám dính trong lòng ống hút được quấn bằng tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng, niêm phong trong phong bì ký hiệu T, gửi đến giám định, là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
  • Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất lỏng không màu, bám dính bên trong chai nhựa màu trắng, được niêm phong trong túi nilon ký hiệu C, gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được thể tích.
  • Chất tinh thể màu trắng đục bám dính bên trong coóng thủy tinh, được niêm phong trong túi nilon ký hiệu C, gửi đến giám định, là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Kết quả xét nghiệm, kiểm tra việc sử dụng chất ma túy ngày 30/12/2023 xác định: Nguyễn Thị Hồng H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị T3 và Phạm Văn Đ đều dương tính với ma tuý dạng MET và AMP. Các bị cáo và chị T3, anh Đ đều khai nhận kết quả dương tính là do đã sử dụng ma tuý vào ngày 29/11/2023 tại nơi ở của bị cáo H.

Kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 01/01/2024 đều xác định: H, P, T, T3, Đ đều không nghiện ma tuý.

Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 22/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện G, tỉnh Hải Dương truy tố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng H về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự (BLHS) và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Bị cáo Nguyễn Anh T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; Bị cáo Nguyễn Văn P về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS và tội Chiếm đoạt chất ma túy tại điểm a, c khoản 1 Điều 252 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Chiếm đoạt chất ma túy.

- Về hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự (BLHS) đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng H, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng H từ 07 năm 04 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và từ 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 07 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung: từ 08 năm 08 tháng tù đến 09 năm 04 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Anh T, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 08 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/12/2023;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm a, c khoản 1 Điều 252; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 55 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn P, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 07 năm 02 tháng tù đến 07 năm 07 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và từ 01 năm 01 tháng tù đến 01 năm 04 tháng tù về tội Chiếm đoạt chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạt chung: từ 08 năm 03 tháng tù đến 08 năm 11 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/12/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 BLHS và a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy: 0,104 gam ma tuý Methamphetamine và tờ giấy trắng, túi nilon màu trắng gói số ma túy này; 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 (được đựng trong phong bì ký hiệu T1, niêm phong số 63/KL-KTHS); 03 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 (được đựng trong phong bì ký hiệu T2, niêm phong số 63/KL-KTHS); 0,143 gam ma tuý Methamphetamine và tờ giấy trắng, túi nilon màu trắng gói số ma túy này, 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu xanh dương, 01 hộp nhựa màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu M3 (được đựng trong phong bì ký hiệu T3, niêm phong số 63/KL-KTHS); 0,122 gam ma tuý Methamphetamine và tờ giấy trắng, túi nilon màu trắng gói số ma túy này, 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ (được đựng trong phong bì ký hiệu T3, niêm phong số 63/KL-KTHS); 0,035 gam ma tuý Methamphetamine và tờ giấy trắng, túi nilon màu trắng gói số ma túy này, 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ (được đựng trong phong bì ký hiệu T3, niêm phong số 63/KL-KTHS); 01 vỏ phong bì ký hiệu T (được đựng trong phong bì ký hiệu T4, niêm phong số 63/KL-KTHS); 01 chai nhựa màu trắng, thân chai có dòng chữ "HỒ VẰN", nắp chai màu vàng có đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn với 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 vỏ túi nilon ký hiệu C, 01 coóng thủy tinh (được đựng trong hộp cát tông ký hiệu T5, niêm phong số 63/KL-KTHS); 01 bật lửa gas màu trắng, có dòng chữ "HOA VIỆT" (được đựng trong bì thư dán kín ký hiệu B); 01 chiếc chiếu trúc màu nâu, kích thước 1,75x2m (được niêm phong bằng cách cuộn tròn, buộc dây và dán giấy niêm phong tại phần buộc dây); 01 chiếc túi xách thể thao màu đen, bên ngoài túi có dòng chữ "ADIDAS" màu trắng (được niêm phong trong hộp cát tông có kích thước 28,5cmx36cm).

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (được đựng trong phong bì ký hiệu T4, niêm phong số 63/KL-KTHS).

- Về án phí: Căn cứ các Điều 135; 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo H, T, P bị kết án nên buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định nội dung bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G và quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với các bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 16 giờ ngày 29/12/2023, tại nơi ở của Nguyễn Thị Hồng H tại thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương, H có hành vi cung cấp ma tuý loại Methamphetamine và rủ rê Nguyễn Văn P, Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị T3 và Phạm Văn Đ cùng sử dụng trái phép chất ma tuý; Nguyễn Anh T có hành vi đổ chất ma túy ra Coóng rồi dùng bật lửa hơ nóng cho H, T3, Đ sử dụng; Nguyễn Văn P có hành vi dùng bật lửa hơ nóng chất ma tuý cho T3 và H sử dụng. Ngoài ra, H còn có hành vi cất giấu trái phép trong túi thể thao màu đen 01 hộp nhựa trong suốt, bên trong hộp nhựa có 03 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 0,192g + 0,177g + 0,052g + 0,143g = 0,564g (Không phẩy năm trăm sáu mươi tư gam), để sử dụng cho bản thân. Trong quá trình tổ chức sử dụng chất ma tuý, lợi dụng lúc H không để ý, Nguyễn Văn P có hành vi chiếm đoạt 0,143g (Không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) ma túy, loại Methamphetamine của H, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Từ những hành vi trên, HĐXX thấy:

- Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Các bị cáo H, P, T đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác sử dụng, chuẩn bị dụng cụ để người khác sử dụng trái phép chất ma túy, là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Trong đó, H cung cấp ma tuý, các công cụ và rủ rê Nguyễn Văn P, Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị T3 và Phạm Văn Đ cùng sử dụng trái phép chất ma tuý nên hành vi của H là cung cấp ma túy và công cụ cho P, T, T3, Đ sử dụng; Nguyễn Anh T đổ chất ma túy ra Coóng rồi dùng bật lửa hơ nóng cho H, T3, Đ sử dụng nên hành vi của T là cung cấp ma túy cho H, T3, Đ sử dụng; Nguyễn Văn P dùng bật lửa hơ nóng chất ma tuý cho T3 và H sử dụng nên hành vi của P là cung cấp ma túy cho H, T3 sử dụng. Do vậy, VKSND huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo H, T, P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo H: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện để có ma túy sử dụng, tổng khối lượng chất ma túy bị cáo cất giấu là 0,564gam ma tuý loại Methamphetamine. Do đó, VKSND huyện Gia Lộc truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với hành vi chiếm đoạt chất ma túy của bị cáo P: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm chất ma túy của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do tư lợi cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt chất ma túy của bị cáo H nhằm sử dụng. Lượng ma túy bị cáo chiếm đoạt là 0,143gam Methamphetamine, hơn nữa tại Bản án số 31/2022/HSST ngày 23/6/2022 của Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, xử phạt P 16 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 173 BLHS, P chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2022, đến nay chưa được xoá án tích, mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, VKSND huyện Gia Lộc truy tố bị cáo về tội “Chiếm đoạt chất ma túy” với hai tình tiết định khung quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 252 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Ma túy có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Nó không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS mà còn là nguồn phát sinh các loại vi phạm, tội phạm khác. Do đó cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Bị cáo H, P, T cùng thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm trong tội này. Tuy nhiên đây là hành vi đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thị Hồng H là người đề xuất, cung cấp chất ma tuý, chuẩn bị các dụng cụ và rủ T, P, T3, Đ sử dụng trái phép chất ma tuý nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo Nguyễn Anh T và Nguyễn Văn P đều là những người thực hành tích cực giữ vai trò thứ hai và thứ ba.

Đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo H và tội Chiếm đoạt chất ma túy của bị cáo P, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập, không có đồng phạm. Do vậy, các bị cáo phải chịu hình phạt cho hành vi phạm tội của mình.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H, bị cáo P không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại Bản án hình sự số 62/2021/HSST ngày 30/11/2021 của Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, xử phạt T 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, T chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2023, đến nay chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. HĐXX sẽ quyết định mức hình phạt phù hợp đối với vai trò của từng bị cáo trong vụ án, trong từng hành vi phạm tội.

[7] Về vật chứng:

- Đối với 0,104 gam ma tuý Methamphetamine được gói bằng giấy trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 0,143 gam ma tuý Methamphetamine được gói bằng giấy trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, 0,122 gam ma tuý Methamphetamine được gói bằng giấy trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng và 0,035 gam ma tuý Methamphetamine được gói bằng giấy trắng bên ngoài là túi nilon màu trắng, hoàn lại sau giám định; xét thấy số ma túy này là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; còn đối với các tờ giấy trắng và các túi nilon màu trắng gói số ma túy này, xét thấy đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với: 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 (niêm phong trong phong bì ký hiệu T1); 03 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 (niêm phong trong phong bì ký hiệu T2); 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu xanh dương, 01 hộp nhựa màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu M3 (niêm phong trong phong bì ký hiệu T3); 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ (niêm phong trong phong bì ký hiệu T3); 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ (niêm phong trong phong bì ký hiệu T3); 01 vỏ phong bì ký hiệu T (niêm phong trong phong bì ký hiệu T4); 01 chai nhựa màu trắng, thân chai có dòng chữ "HỒ VẰN", nắp chai màu vàng có đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn với 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 vỏ túi nilon ký hiệu C, 01 coóng thủy tinh (niêm phong trong hộp cát tông ký hiệu T5); 01 bật lửa gas màu trắng, có dòng chữ "HOA VIỆT"; 01 chiếc chiếu trúc màu nâu, kích thước 1,75x2m và 01 chiếc túi xách thể thao màu đen, có dòng chữ "ADIDAS" màu trắng. Xét thấy, đây là đồ vật các đối tượng dùng để sử dụng trái phép chất ma túy và vật không có giá trị, chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại, nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng, được các bị cáo sử dụng làm ống hút dùng để sử dụng chất ma tuý, cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Nguyễn Thị Hồng H khai báo đã mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực cầu P, thành phố H, quá trình điều tra không xác định được người này là ai nên không có căn cứ xử lý.

Về địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý: Quá trình điều tra xác định nhà và đất là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị P1, sinh năm 1970, trú tại: Số H H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Bà P1 cho Nguyễn Thị Hồng H ở nhờ từ đầu năm 2023 nhưng không biết H sử dụng nhà ở để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý vì vậy không đặt vấn đề xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của H, P, T, T3 và Đ tại nơi ở của H vào ngày 29/12/2023. Ngày 22/4/2024, Công an huyện G đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người có hành vi vi phạm nói trên theo quy định, là phù hợp.

[9] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 17; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự (BLHS); điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng H.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự (BLHS); điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Anh T.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm a, c khoản 1 Điều 252; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 17; Điều 58; Điều 55 Bộ luật Hình sự (BLHS); điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Văn P.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và phạm tội “Chiếm đoạt chất ma túy”.

    - Về hình phạt chính:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng H 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cộng lại thành hình phạt chung là 08 (tám) năm 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt đi thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2023.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 07 (bẩy) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Chiếm đoạt chất ma túy”. Cộng lại thành hình phạt chung là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2023.

    - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu, tiêu hủy:

    • + 0,104 gam ma tuý Methamphetamine và tờ giấy trắng, túi nilon màu trắng gói số ma túy này; 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 (được đựng trong phong bì ký hiệu T1, niêm phong số 63/KL-KTHS);
    • + 03 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 (được đựng trong phong bì ký hiệu T2, niêm phong số 63/KL-KTHS);
    • + 0,143 gam ma tuý Methamphetamine và tờ giấy trắng, túi nilon màu trắng gói số ma túy này, 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu xanh dương, 01 hộp nhựa màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu M3 (được đựng trong phong bì ký hiệu T3, niêm phong số 63/KL-KTHS);
    • + 0,122 gam ma tuý Methamphetamine và tờ giấy trắng, túi nilon màu trắng gói số ma túy này, 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ (được đựng trong phong bì ký hiệu T3, niêm phong số 63/KL-KTHS);
    • + 0,035 gam ma tuý Methamphetamine và tờ giấy trắng, túi nilon màu trắng gói số ma túy này, 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khoá màu đỏ (được đựng trong phong bì ký hiệu T3, niêm phong số 63/KL-KTHS);
    • + 01 vỏ phong bì ký hiệu T (được đựng trong phong bì ký hiệu T4, niêm phong số 63/KL-KTHS);
    • + 01 chai nhựa màu trắng, thân chai có dòng chữ "HỒ VẰN", nắp chai màu vàng có đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn với 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 vỏ túi nilon ký hiệu C, 01 coóng thủy tinh (được đựng trong hộp cát tông ký hiệu T5, niêm phong số 63/KL-KTHS);
    • + 01 bật lửa gas màu trắng, có dòng chữ "HOA VIỆT" (được đựng trong bì thư dán kín ký hiệu B);
    • + 01 chiếc chiếu trúc màu nâu, kích thước 1,75x2m (được niêm phong bằng cách cuộn tròn, buộc dây và dán giấy niêm phong tại phần buộc dây);
    • + 01 chiếc túi xách thể thao màu đen, bên ngoài túi có dòng chữ "ADIDAS" màu trắng (được niêm phong trong hộp cát tông có kích thước 28,5cmx36cm).

    - Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (được đựng trong phong bì ký hiệu T4, niêm phong số 63/KL-KTHS).

  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng H, bị cáo Nguyễn Văn P, bị cáo Nguyễn Anh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Gia Lộc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Gia Lộc;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy và chiếm đoạt chất ma túy

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy và Chiếm đoạt chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 16 giờ ngày 29/12/2023, tại nơi ở của Nguyễn Thị Hồng Hạnh tại thôn Bái Thượng, xã Toàn Thắng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Hạnh có hành vi cung cấp ma tuý loại Methamphetamine và rủ rê Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Tuyết và Phạm Văn Đăng cùng sử dụng trái phép chất ma tuý; Nguyễn Anh Tuấn có hành vi đổ chất ma túy ra Coóng rồi dùng bật lửa hơ nóng cho Hạnh, Tuyết, Đăng sử dụng; Nguyễn Văn Phương có hành vi dùng bật lửa hơ nóng chất ma tuý cho Tuyết và Hạnh sử dụng. Ngoài ra, Hạnh còn có hành vi cất giấu trái phép trong túi thể thao màu đen 01 hộp nhựa trong suốt, bên trong hộp nhựa có 03 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 0,192g + 0,177g + 0,052g + 0,143g = 0,564g (Không phẩy năm trăm sáu mươi tư gam), để sử dụng cho bản thân. Trong quá trình tổ chức sử dụng chất ma tuý, lợi dụng lúc Hạnh không để ý, Nguyễn Văn Phương có hành vi chiếm đoạt 0,143g (Không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) ma túy, loại Methamphetamine của Hạnh, mục đích để sử dụng cho bản thân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger