Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thái

Bà Nguyễn Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Ninh - Kiểm sát viên;

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn B, sinh năm 1996. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố đẻ: Trần Văn T, sinh năm 1970. Mẹ đẻ: Hoàng Thị V, sinh năm 1973. Gia đình bị can có 02 anh em, bị can là con thứ 02 trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Bản án số 49/2023/HS-ST ngày 16/02/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 7.000.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/6/2023, án phí ngày 12/7/2023. Tiền sự: Chưa có. Bị can đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

* Bị hại: Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1988 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

  1. Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 2002 (vắng mặt)
    Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2000 (vắng mặt)
    Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Ông Trịnh Xuân Đ1, sinh năm 1951 (vắng mặt)
    Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn B là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Ngày 15/02/2024, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên B nảy sinh ý định đi bộ quanh khu vực thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang xem có tài sở thì trộm cắp. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi B đi bộ đến trước cửa nhà anh Vũ Văn T1, sinh năm 1987 trú tại tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, B phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Future, màu sơn nâu vàng đen, biển số 98F1-093.93 đang dựng trước cửa nhà. Quan sát không có người trông coi, B tiến lại gần xe mô tô và nhìn vào trong nhà thì thấy có chùm chìa khóa đang cắm ở ổ khóa nhà. B đi vào nhà lấy chùm chìa khóa rồi tháo chìa khóa xe mô tô ra, B mang ra mở và đề nổ xe mô tô rồi điều khiển thẳng đến cửa hàng mua bán xe máy của ông Trịnh Xuân Đ1, sinh năm 1951 ở số B, tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang để cầm cố nhưng ông Đ1 không đồng ý nên B điều khiển xe đi về. Trên đường về B có gặp và nhờ anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 2002 (ở cùng thôn với B) chụp ảnh xe mô tô gửi cho anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2000 trú tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang để hỏi giá cắm xe nhưng do không thống nhất nên B và T3 không nói chuyện tiếp được với nhau, sau đó Bằng tháo biển số 98F1- 093.93 cất vào trong cốp xe. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, B điều khiển xe mô tô đến quán C của anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1988 trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thỏa thuận cầm cắm với số tiền 4.000.000 đồng (anh T2 đưa cho B số tiền 3.600.000 đồng và yêu cầu Bằng 10 ngày mang đăng ký xe đến sẽ thanh toán nốt 400.000 đồng). Sau khi cầm cắm chiếc xe mô tô trên, B sử dụng số tiền trên chi tiêu cá nhân hết.

Cùng ngày anh Vũ Văn T1 đã làm đơn trình báo và giao nộp 01 đăng ký xe số 011623, nhãn hiệu Honda Future, biển số 98F1-093.93 mang tên Vũ Văn T1. Đến ngày 17/02/2024, B đến Công an huyện L đầu thú.

Ngày 18/02/2024 anh Nguyễn Hữu T2 giao nộp: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Future, màu sơn nâu vàng đen, biển số 98F1-09393.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã cho anh Vũ Văn T1 chỉ vị trí để xe mô tô; dẫn giải Bằng chỉ vị trí trộm cắp, nơi bán xe mô tô và cho B thực nghiệm lại hành vi trộm cắp. Kết quả anh T1 chỉ đúng vị trí để xe mô tô biển số 98F1-093.93 tại trước cửa nhà. Bằng cũng xác định và chỉ đúng vị trí anh T1 để xe, B cũng chỉ đúng quán cầm đồ của anh Nguyễn Hữu T2 và thực hiện thuần thục, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của B cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L cho Trịnh Xuân Đ1 nhận dạng qua ảnh người mang chiếc xe mô tô nhãn hiệu Future, màu sơn nâu - vàng - đen, biển số 98F1-093.93 đến quán của ông ngày 15/02/2024. Kết quả ông Đ1 nhận ra người trong ảnh số 4 là Trần Văn B, sinh năm 1996, trú tại thôn N, xã N, huyện L.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu sơn nâu - vàng - đen, biển số 98F1-09393 giá trị là 12.760.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Văn T1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị can bồi thường, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can B. Anh Nguyễn Hữu T2 yêu cầu bị can B trả lại số tiền 3.600.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo B bồi thường cho anh Nguyễn Hữu T2 số tiền 3.600.000 đồng. Bị cáo B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo B tại phiên tòa trình bày: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu là đúng; bị cáo nhất trí với bản luận tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranhtụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người bị hại và những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra những người này đã có đầy đủ lời khai nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án; Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của những người vắng mặt khi xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn B thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 30 ngày 15/02/2024, tại trước cổng nhà anh Vũ Văn T1, sinh năm 1987 ở tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, Trần Văn B có hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu sơn nâu - vàng - đen, biển số 98F1-093.93 có giá trị 12.760.000 đồng của anh Vũ Văn T1. Sau khi trộm cắp Trần Văn B đến Công an huyện L đầu thú ngày 17/02/2024. Tài sản đã thu hồi được.

[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Thủ đoạn của bị cáo là lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý, bảo vệ tài sản để thực hiện hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản với mục đích bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy:

Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt, mức hình phạt đối với bị cáo B như đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[6] Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo B.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu sơn nâu - vàng - đen, biển số 98F1-093.93 và 01 đăng ký xe số 011623, nhãn hiệu Honda Future, biển số 98F1-093.93 mang tên Vũ Văn T1 cho anh Vũ Văn T1 là phù hợp quy định pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo B có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy, sau đó bán cho anh T2 số tiền là 3.600.000 đồng. Anh T2 không biết đây là tài sản trộm cắp mà có, nay anh T2 có đề nghị bị cáo phải trả cho anh T2 số tiền 3.600.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.

[9] Đối với anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1988 là người nhận mua chiếc xe mô tô; anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2000 được Bằng hỏi nơi cầm cố xe mô tô và anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 2002 được B nhờ chụp ảnh xe mô tô. Quá trình điều tra xác định anh T2, T3, Đ đều không biết, Bằng không nói xe mô tô là do Bằng trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 300.000 đồng án phí dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 18/02/2024).

2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn B phải trả cho anh Nguyễn Hữu T2 số tiền 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - VKSND, TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - CQCSĐT Công an huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Nghĩa Phương, Lục Nam;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Giáp Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn B - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger