Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-ST

Ngày 29/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Quang Tụng

Bà Nguyễn Thị Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền -Thư ký Tòa án nhân dânhuyện Phù Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Phù Ninhtham gia phiên tòa:

Bà Vương Thị Đàm Chuyên - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần được đặt tại Trại tạm giam Công an tỉnh P những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa gồm:

Những người tiến hành tố tụng:

- Ông Triệu Ngọc S - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Ông Nguyễn Ngọc P - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Điểm cầu Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và Đ cầu Trại tạm giam Công an tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 46/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN QUỐC HIỆP; Giới tính: Nam;Tên gọi khác: Không;Sinh ngày: 11 tháng 02 năm 1999tại: tỉnh Phú Thọ;Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Địa chỉ: Khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ôngNguyễn Văn Cẩn và bàHoàng Thị T; Vợ:Hán Thị H, sinh năm 2001;Con: có 01 con sinh năm 2021;Tiền án, tiền sự:

1

Không.Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Nguyễn Anh H1, sinh năm 1988

Địa chỉ: Khu B, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn C – Sinh năm 1971

Địa chỉ: Khu 4, xã Trị Quận, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

2. Chị Hán Thị H - Sinh năm 2001

Địa chỉ: khu E, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ

(Anh H1, ông C vàchị Huệcó đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 5/2023, Nguyễn Quốc H2 - sinh năm 1999, nơi thường trú: khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọđến quán sửa xe của anh Nguyễn Anh H1 - sinh năm 1988 ở khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để vay số tiền 26.000.000 đồng. H2 thỏa thuận với anh H1 để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số 19P1-335.63, cùng giấy đăng ký xe mang tên Hán Thị H địa chỉ khu E, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ (vợ H2) để làm tin. Anh H1 cho H2 vay tiền nhưng không lấy lãi và cũng không yêu cầu H2 viết giấy vay nợ. Sau khi vay được tiền, H2 ăn chơi dẫn tới nợ nần nên đã bỏ đi khỏi địa phương lang thang làm thuê tự do tại thành phố Hà Nội.

Đến ngày 18/8/2023, H2 tham gia một nhóm trên mạng xã hội Facebook tên “Hội Những Người Vỡ Nợ - Giúp Đỡ Nhau Làm Lại Cuộc Đời” và làm quen với một tài khoản Facebook “Khánh Đặng”.Người này tự giới thiệu tên là Đặng Trọng K quê ở tỉnh Nghệ An, hiện đang ở thành phố Hà Nội. K không cho H2 biết thêm thông tin cụ thể gì của K. Qua ứng dụng tin nhắnFacebook Messenger H3 và K nói chuyện rồi rủ nhau đi về quán sửa xe của anh Nguyễn Anh H1 tại khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để trộm cắp lại giấy đăng ký của chiếc xe mô tô Honda Lead biển số 19P1-335.63 mà H3 đã để lại cho anh H1 làm tin trước đó, rồi dùng để mang đi vay tiền ở nơi khác lấy tiền tiêu xài. Ngoài ra sẽ trộm cắp tiền, tài sản có giá trị ở trong quán sửa xe trên. H3 và K hẹn gặp nhau ở bến xe M.

Đến khoảng 17 giờ ngày 19/8/2023, H3 cầm theo chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng và chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 vỏ màu nâu đi đến bến xe M để gặp K. Gặp nhau, do H3 và K đều không có tiền nên cả hai cùng đi đến quán mua bán, sửa chữa điện thoại của anh Đoàn Quốc D - sinh năm 1989, thuộc số nhà I, tổ A, Phố D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. H3 bán cho anh D chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng được 1.700.000đ (một triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau đó H3 và K quay lại bến xe M để bắt xe về quán sửa xe

2

của anh H1. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H3 và K về đến xã P và xuống xe ở trước cổng trường Trung học phổ thông P2.

Trước đó, H3 đã nhiều lần đến quán của anh H1, nên H3 biết quán nằm ở phía trước chợ P3, phía sau quán có một cửa ra vào, buổi tối ít người qua lại. H3 nảy sinh ý định sẽ đột nhập vào quán của anh H1 từ phía sau. H3 và K đi bộ từ cổng trường Trung học phổ thông P2 theo đường quốc lộ 2 hướng đi thành phố V, rồi rẽ vào chợ P3 đi ra phía sau quán của anh H1. Hiệp quan sátthấy cửa phía sau ở tầng 2 quán đang mở cửa, trong nhà tắt điện. Thấy trong nhà và xung quanh không có người, H3 bảo K đứng ở ngoài để cảnh giới còn H3 đột nhập vào bên trong. H3 trèo lên tường làm bằng gạch xỉ, men theo mái lợp xi măng rồi leo lên tầng 2 và đi vào cửa tầng 2 quán của anh H1. H3 đi theo lối cầu thang bên trái xuống tầng 1 thì thấy có một phòng ngủ bên tay trái đang mở cửa. Cửa phòng là cửa nhôm kính màu trắng, phía cuối phòng bên phải hướng từ ngoài nhìn vào có kê một chiếc giường. Đầu giường kê sát tường phía trên là cửa sổ. H3 đi vào bên trong phòng để tìm giấy đăng ký xe. Lúc này H3 nhìn thấy hai chiếc hộp giấy để ở đầu giường giáp với tường nhà, trong đó có một chiếc hộp giấy tối màu dài khoảng 20cm, cao khoảng 05 cm, rộng khoảng 13 cm. H3 mở chiếc hộp giấy này ra thấy bên trong có giấy đăng ký xe của chiếc xe mô tô biển số 19P1-335.63 được gói trong 01 tờ giấy vay tiền nhưng không rõ nội dung và tiền gồm nhiều mệnh giá. Chiếc hộp còn lại dài khoảng 15 cm, rộng khoảng 14 cm, cao khoảng 08 cm mặt hộp màu cam. H3 mở chiếc hộp này ra nhìn thấy bên trong có tiền gồm nhiều mệnh giá. H3 không kiểm đếm tiền mà cầm hai chiếc hộp này đi lại lên tầng 2 theo lối cũ. H3 ném lần lượt hai chiếc hộp trên xuống dưới cho K đỡ và trèo tường xuống khu vực đất trống phía sau quán anh H1. Sau khi xuống đất, H3 dồn tiền từ hộp màu cam sang hộp tối màu, rồi đưa chiếc hộp màu cam cho K cầm, H3 cầm chiếc hộp tối màu. Sau đó, H3 và K đi theo đường bê tông trong chợ P3 rồi đi ra đường T ra khu F, xã P. Cả hai tiếp tục đi bộ theo đường tỉnh 323 rồi rẽ vào đường K, xã P, huyện P. Lúc này H3 lấy tiền và đăng ký xe mô tô bên trong hộp giấy tối màu ra đúc vào túi quần; còn tờ giấy vay tiền dùng để gói đăng ký xe mô tô và hộp giấy thì H3 vứt xuống một đập nước ở ven đường thuộc khu G, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Còn hộp giấy màu cam H3 đưa cho K, H3 không biết K để ở đâu. Trước khi vứt tờ giấy, H3 có đọc qua thấy tờ giấy vay tiền trên có ghi nội dung: “vay của chị H4 một trăm triệu”. Sau đó, cả hai tiếp tục đi theo đường bê tông phía sau nhà máy G rồi đi ra Quốc lộ B. Lúc này, điện thoại Nokia 1280 của H3 hết pin, còn điện thoại của K thì không có sim nên cả hai đi vào cây xăng H11 thuộc khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để nhờ người gọi hộ xe taxi. Khi vào bên trong cây xăng, H3 gặp anh Nguyễn Bá P1 - sinh năm 1981, thường trú tại khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. H3 nhờ anh P1 gọi giúp một chiếc taxi. Anh P1 gọi điện thoại cho lái xe taxi là anh Lê Tuấn C1 - sinh năm 1985, thường trú tại khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ đến đón khách. Khoảng 10 phút sau, anh C1 điều khiển xe taxi đến đón H3 và K đi xuống gầm cầu vượt đường C - Lào Cai ở xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau đó H3 và K bắt xe taxi ghép trên đường cao tốc (không xác định được biển số

3

xe) về bến xe M. H3 sử dụng số tiền vừa trộm cắp được để trả tiền xe taxi và taxi ghép hết tổng số tiền là 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng).

Khi về đến bến xe M, H3 và K cùng kiểm đếm tiền thì thấy số tiền trộm cắp được còn lại là 9.520.000 (chín triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).Tổng số tiền H3 và K trộm cắp được tại quán của anh H1 là 10.220.000đ (mười triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng). H3 và K đi vào một quán ăn ở gần bến xe M để ăn bún hết 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng). Số tiền còn lại H3 và K1 nhau mỗi người 4.700.000đ (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau khi ăn xong thì K bỏ đi.

Số tiền H3 bán điện thoại ngày 19/08/2023, H3 đã sử dụng trả tiền xe khách hết 200.000 đồng, còn lại 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền sau khi đi trộm cắp về H3 có là 6.200.000đ (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Đến sáng ngày 20/8/2023 H3 đi xe taxi đến quán điện thoại để mua lại chiếc điện thoại trước đóđã bán hết 1.900.000đ (một triệu chín trăm nghìn đồng). H3 đưa 3.000.000đ (ba triệu đồng) cho anh Vương Ngọc T1 - sinh năm 1959, thường trú tại thôn D, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội (là chủ quán hát karaoke H3 làm thuê khi bỏ nhà đi Hà Nội)để nhờ anh T1 chuyển cho H3 3.000.000đ (ba triệu đồng) tiền mặt vào số tài khoản 199921218888 thuộc ngân hàng M của H3 để H3 tiện tiêu xài cá nhân. Sau đó H3 sử dụng số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) trên để nạp chơi trò chơi trên điện thoại hết. Số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) còn lại, H3 cũng đã tiêu xài, ăn uống cá nhân hết. Giấy đăng ký xe mô tô biển số 19P1-335.63 thì H3 mang theo và để ở nhà thuộc khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ khi mới từ thành phố Hà Nội về.

Ngày 29/8/2023 H3 bị Cơ quan CSĐT - Công an huyện P triệu tập làm việc, tại Cơ quan điều tra Nguyễn Quốc H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.Cơ quan CSĐT công an huyện P đã thu giữ được giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số 19P1-335.63, mang tên chị Hán Thị H tại nhà của H2. Ngoài ra H2 còn tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, gắn sim số 0344.699.818; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quốc H2; 01 chiếc mũ lưỡi trai màu trắng; 01 bộ quần áo là đồ dùng H2 mặc khi trộm cắp tài sản ngày 19/8/2023.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành truy tìm 02 chiếc hộp giấy và giấy vay nợ nhưng không tìm thấy; tiến hành thu giữ của bị hại Nguyễn Anh H1 01 chiếc nắp vỏ hộp giấy bằng bìa cứng và 02 chiếc vỏ hộp giấy bằng bìa cứng, loại vỏ hộp đựng bóng đèn xe mô tô có đặc điểm tương tự như 02 chiếc vỏ hộp đựng tiền và giấy vay tiền bị H2 trộm cắp để phục vụ quá trình điều tra.

* Về dân sự:

- Ngày 23/10/2023, trên cơ sở tác động của bị cáo H2, ông Nguyễn Văn C (bố đẻ của H2) tự nguyện nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P số tiền 10.220.000 đồng để thay H2 bồi thường cho anh H1.

4

- Chiếc xe mô tô Honda Lead biển số 19P1-335.63, chị Hán Thị H (vợ của H2) và anh H1 cùng thỏa thuận chị H bán lại cho anh H1 chiếc xe giá 26.000.000 đồng để đối trừ số tiền 26.000.000 đồng mà H2 đã vay của anh H1.

- 02 chiếc hộp giấy và 01 giấy vay tiền là đồ vật không có giá trị nên hành H1 không yêu cầu H2 bồi thường

* Việc xử lý vật chứng, đồ vật, tài sản:

- Ngày 11/10/2023 CQĐT đã trả cho anh H1: 02 chiếc vỏ hộp giấy bằng bìa cứng và 01 chiếc nắp vỏ hộp giấy bằng bìa cứng đã thu giữ.

- Đối với số tiền 10.220.000 đồng thu giữ của ông Nguyễn Văn C: 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, gắn sim số 0344.699.818; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quốc H2; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu trắng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu trắng; 01 (một) chiếc quần bò dạng quần ngố màu đen bạc - là quần áo, đồ dùng H2 mặc khi trộm cắp tài sản ngày 19/8/2023; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 19P1-335.63 thu giữ của Nguyễn Quốc H2.

Được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh chờ xử lý.

* Xác minh về tài sản, thu nhập của bị cáo:

Xác minh tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ xác định Nguyễn Quốc H2 sống cùng bố mẹ đẻ. H2 không có tài sản là đất hay tài sản gì trên đất tại xã T.

Bản Cáo trạng số 48/CT-VKS-PN ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H2 về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninhvẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS; khoản 3 Điều 328 BLTTHS, đề nghị xử phạt bị cáo H2 từ 12 tháng - 15 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 30/8/20223 đến ngày 29/11/2023 là 92 ngày, quy đổi = 276 ngày cải tạo không giam giữ (01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ) = 09 tháng 06 ngàycải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 02 tháng 24 ngày - 05 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ.

Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Quốc H2 ngay tại phiên tòa.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan THAHS huyện P nhận được bản án và quyết định thi hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người phải chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

5

Không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo nhưng buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng 01 ngày không quá 04 tiếng, 01 tuần không quá 05 ngày.

Giáo bị cáo Nguyễn Quốc H2 cho UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ quản lý giám sát, giáo dục và buộc bị cáo thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian chấp hành án.

+ Hình phạt bổ sung: miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS đề nghị xử lý vật chứng:

- Trả lại cho anh Nguyễn Anh H1:

+ Số tiền10.220.000đ (mười triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) – số tiền này hiện đang trong tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh (theo Biên bản chuyển vật chứng ngày 16/11/2023).

+ 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023977 do Công an huyện P cấp ngày 21/07/2020. Biển số đăng ký: 19P1 – 335.63; tên chủ xe: Hán Thị H.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, số IMEI: 35946908028329, điện thoại đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Nguyễn Quốc H2: 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Quốc H2 là giấy tờ tùy thân của H2.

- Tịch thu tiêu hủy của Nguyễn Quốc H2:

+ 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu trắng, trên mũ có gắn mác có in chữ “Nam Son”, mũ đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu trắng, phần ngực áo có nin chữ "Moment Discover” màu đen, áo đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc quần bò dạng quần ngố màu đen bạc, phần cạp quần có gắn 01 mảnh giả da màu trắng có in chữ “TCS”, “MỘT CHỮ TÍN VẠN NIỀM TIN”, quần đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phôi sim số 0344.699.818 được gắn trong điện thoại Iphone 7 Plus của H2 do không còn giá trị sử dụng.

- Đối với chiếc xe mô tô Honda Lead biển số 19P1-335.63, chị Hán Thị H (vợ của H2) và anh H1 cùng thỏa thuận chị H bán lại cho anh H1 chiếc xe giá 26.000.000 đồng để đối trừ số tiền 26.000.000 đồng mà H2 đã vay của anh H1. Do đó không đề cập đến vấn đề dân sự trong vụ án này.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc Hiệp đồng ý với bản

6

cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng:Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo:

Khoảng 21 giờ ngày 19/8/2023, Nguyễn Quốc H2 đã có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Anh H1 số tiền 10.220.000 đồng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 19P1 - 335.63 (không xác định giá trị) tại quán sửa xe mô tô của anh H1 ở khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc H2 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3]. Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của anh Nguyễn Anh H1 được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đó là: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả về hành vi phạm tội của mình và thành khẩn

7

khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Ngoài ra bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sựlà: bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và ông nội, ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo Nguyễn Quốc H5 tội ít nghiêm trọng, nhân thân không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi của mình và xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự quy định người bị kết án phải bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Xét thấy bị cáo H2 không có thu nhập vì vậy miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo. Tuy nhiên cần buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó bị cáo H2 có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng bị cáo không có tài sản gì có giá trị vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 10.220.000₫ (Mười triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) ông Nguyễn Văn C nộp khắc phục hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo H2, xét thấy cần trả lại cho anh Nguyễn Anh H1 số tiền này là phù hợp.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, số IMEI 359469080283298cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo H2: sau khi bị cáo trộm cắp số tiền 10.220.000đ (Mười triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) của anh H1, bị cáo đã sử dụng số tiền 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng) để mua lạichiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng của bị cáo xét thấy đây là tài sản thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với sim số 0344.699.818 không có giá trị nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Quốc H2: xét thấy là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo H2 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Đối với: 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu trắng, trên mũ có gắn mác có in chữ “Nam Son”, mũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu trắng, phần

8

ngực áo có in chữ “Moment Discover” màu đen, áo đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần bò dạng quần ngố màu đen bạc, phần cạp quần có gắn 01 mảnh giả da màu trắng có in chữ “TCS”, “MỘT CHỮ TÍN VẠN NIỀM TIN”, quần đã qua sử dụng. Xét thấy tại phiên toà bị cáo H2 đề nghị không trả lại cho bị cáo vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023977 do Công an huyện P cấp ngày 21/7/2020, biển số 19P1-335.63, tên chủ xe Hán Thị H, địa chỉ khu E, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ: xét thấy chị Hán Thị H đã bán chiếc xe máy biển số 19P1-335.63 cho anh Nguyễn Anh H1 vì vậy cần trả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho anh H1 là phù hợp.

Đối với 02 chiếc hộp giấy và 01 giấy vay tiền là đồ vật không có giá trị nên anh H1 không yêu cầu H2 bồi thường, xét thấy đây là sự tự nguyện của anh H1 vì vậy không đặt ra giải quyết.

Đối với 02 chiếc vỏ hộp giấy bằng bìa cứng và 01 chiếc nắp vỏ hộp giấy bằng bìa cứng Cơ quan điều tra Công an huyện P đã trả cho anh H1 ngày 11/10/2023, anh H1 đã nhận lại và không có đề nghị gì vì vậy không giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Quốc H6 chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ có căn cứ cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vàokhoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H5 tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ vàokhoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H7 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giamtừ ngày 30/8/2023 đến ngày 29/11/2023là 92 ngày quy đổi = 276 ngày cải tạo không giam giữ(01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ) = 09 tháng 06 ngàycải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 02 tháng 24ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Quốc H8 Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Quốc H9 trách nhiệm phối hợp Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọtrong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.

9

Về khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập

Bị cáo Nguyễn Quốc H6 thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ thực hiện việc buộc bị cáo Nguyễn Quốc H10 đóng phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Quốc H2 tại phiên toà.

Căn cứ điểm bkhoản 1, khoản 2Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho anh Nguyễn Anh H1:

- Số tiền 10.220.000đ (Mười triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng). Xác nhận bố bị cáo H2 là ông Nguyễn Văn C đã nộp số tiền 10.220.000đ (Mười triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023977 do Công an huyện P cấp ngày 21/7/2020, biển số 19P1-335.63, tên chủ xe Hán Thị H, địa chỉ khu E, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Quốc H2 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, số IMEI 359469080283298.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H2:01 (một) giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Quốc H2.

Tịch thu tiêu hủycủa bị cáo Nguyễn Quốc H2: sim số 0344.699.818; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu trắng, trên mũ có gắn mác có in chữ “Nam Son”, mũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu trắng, phần ngực áo có in chữ “Moment Discover” màu đen, áo đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần bò dạng quần ngố màu đen bạc, phần cạp quần có gắn 01 mảnh giả da màu trắng có in chữ “TCS”, “MỘT CHỮ TÍN VẠN NIỀM TIN”, quần đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 11 năm 2023)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc H2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

10

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND H.Phù Ninh;
  • - Cơ quan điều tra CA H.Phù Ninh;
  • - Chi cục THADS H.Phù Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Trị Quận, H.Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HSVA, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thị Ngọc Lan

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 55/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Hiệp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger