Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QP

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS - ST.

Ngày 28/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QP, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thảo.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Ông Lang Văn Hải.
  • 2 - Ông Mong Thái Dương.
  • - Th- ký phiên toà: Ông Lang Thanh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Bà Lô Thị Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Điểm cầu Trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và Điểm cầu thành phần - Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án Hình sự thụ lý số 53/2024/TLST - HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lương Thị T - Sinh năm 1981 tại huyện QP, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Bản LQ, xã TP, huyện QP, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn Thành (Đã chết); con bà: Lương Thị Thành; Chồng: Lương Văn Sơn; con: Có 03 người con. Lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024. Có mặt.

  • + Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thủy - Trợ giúp viên pháp lý.
  • Công tác tại: Chi nhánh số 2 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • + Người chứng kiến: Anh Nguyễn Kim N - Sinh năm: 1998.
  • Trú tại: Bản VT, xã HD, huyện QP, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 6 năm 2024, Lương Thị T đi bộ từ nhà mình đến đồi cao su thuộc địa phận bản Chiếng, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong để cắt cỏ cho trâu. Khi lên đến đỉnh đồi thì Thanh gặp một người đàn ông không quen biết, tại đây Thanh hỏi và mua với người này 09 viên ma túy màu hồng với số tiền là 200.000 đồng (Mục đích về để sử dụng). Sau khi mua được ma túy, Lương Thị T cất dấu vào trong túi quần bên trái rồi đi bộ về nhà. Khi Lương Thị T về đến khu vực bản Long Quang, xã Tiền Phong, huyện Quế Phong thì bị Tổ công tác của Đồn biên phòng Hạnh Dịch - Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong yêu cầu kiểm tra, Lương Thị T đã tự nguyện lấy gói ni lông màu hồng, bên trong chứa 09 viên nén màu hồng (Nghi là Methamphetamine) từ trong túi quần ra giao nộp cho cơ quan chức năng.

Bản kết luận giám định số: 676/KL - KTHS (Đ2 - MT) ngày 17/6/2024 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận:

“Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lương Thị T gửi đến giám định là ma túy Methamphetamine.

Số viên nén màu hồng thu giữ của Lương Thị T có tổng khối lượng là 0,88 gam (Không phẩy tám mươi tám gam)”.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể:

Vào hồi 19 giờ 00 phút, ngày 13/6/2024, Lương Thị T đang có hành vi cất dấu ma túy trái phép thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng Hạnh Dịch - Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Lương Thị T một gói ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,88 gam (Không phẩy tám mươi tám gam). Mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng.

Cáo trạng số 56/CT - VKS - QP, ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quế Phong tuyên bố bị cáo Lương Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Thị T từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng; miễn phạt tiền bổ sung; miễn tiền án phí án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lương Thị T không tranh luận về tội danh. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Thị T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù; miễn phạt tiền bổ sung; miễn tiền án phí cho bị cáo.

Bị cáo Lương Thị T không có ý kiến tranh luận hay đối đáp với quan điểm của kiểm sát viên, chỉ xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, của Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về nội dung vụ án: Vào hồi 19 giờ 00 phút, ngày 13/6/2024, Lương Thị T đang có hành vi cất dấu ma túy trái phép thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng Hạnh Dịch - Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Lương Thị T một gói ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,88 gam (Không phẩy tám mươi tám gam). Mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng. Vì vậy bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe nòi giống của con người, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm thỏa mãn cơn nghiện thấp hèn của bản thân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy cân xét xử nghiêm và lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để bị cáo có điều kiện đi cai nghiện, cải tạo bản thân thành người có ích cho gia đình, xã hội và răn đe, phòng ngừa chung tình trạng tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây trên địa bàn huyện miền núi, biên giới Quế Phong. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Lương Thị T từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm đối với bị cáo là hợp lý.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điểu 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, thuộc diện hộ cận nghèo, không có tài sản gì giá trị để đảm bảo cho việc thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6].Về vật chứng: Vật chứng thu giữ của bị cáo là 0,88 gam Methamphetamine. Qúa trình điều tra, Cơ quan điều tra đã lấy 0,25 gam đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét. Số Methamphetamine còn lại là 0,63 gam. Đây là chất nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành và mảnh bao ni lô màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lương Thị T không còn giá trị sử dụng nên cân tịch thu tiêu hủy theo điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lương Thị T (Theo như lời khai của Thanh) do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

[7]. Về án phí: Bị cáo Lương Thị Thânh là đối tượng thuộc diện hộ cận nghèo của Chính Phủ quy định nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lương Thị T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử Phạt bị cáo Lương Thị T - 15 tháng tù.
  • Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/6/2024.
  • - Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư bưu điện được niêm phong nguyên vẹn, bên trong đựng 0,63 gam (Không phẩy sáu mươi ba gam) Methamphetamine; mảnh bao ni lông màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lương Thị T.
  • Chi tiết được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
  • - Căn cứ các điều 135 và khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ vào điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Lương Thị T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lương Thị T có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Quế Phong;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Quế Phong;
  • - Trại tạm giam; trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Phong;
  • - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu Văn phòng, THAHS; Hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS - ST. ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện QP, tỉnh Nghệ An về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 55/2024/HS - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện QP, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LƯƠNG THỊ THANH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger