|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-8-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thành Đô
- Ông Đồng Văn Diện
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 – Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- * Bị đơn: Anh Đào Thanh T, sinh năm 1981 - Vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Chị H, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đào Thanh Tùng được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 10/10/2005. Anh chị được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh T làm dâu và chung sống cùng gia đình anh T tại thôn Đ, xã H, huyện L. Quá trình vợ chồng chung sống, thời gian đầu vợ chồng hoà thuận hạnh phúc, đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng chị nảy sinh mâu thuẫn, đến năm 2021 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên vợ chồng hay cãi nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Thanh Tùng.
- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa chị và anh T có 02 con chung là Đào Thanh P, sinh ngày 10/8/2006; Đào Quế P1, sinh ngày 02/11/2011. Hiện các cháu có sức khỏe tốt, phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu Đào Quế P1 cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao cháu Đào Thanh P cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, Toà án có tiến hành lấy lời khai của bị đơn anh Đào Thanh Tùng trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 10/10/2005. Sau khi kết hôn xong thì chị H về làm dâu và chung sống cùng với gia đình anh. Quá trình vợ chồng chung sống, đến khoảng năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng hay cãi nhau. Hiện nay, vợ chồng anh chị sống ly thân, chị H về nhà ngoại sinh sống. Nay, chị H làm đơn xin ly hôn, anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, anh đồng ý ly hôn với chị H.
- Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung: có 02 con chung là Đào Thanh P, sinh ngày 10/8/2006; Đào Quế P1, sinh ngày 02/11/2011. Hiện các cháu có sức khỏe tốt, phát triển bình thường. Khi ly hôn, do cháu P đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết, và đề nghị Toà án giao cháu P1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án con chị H, anh T là cháu Đào Quế P1, sinh ngày 02/11/2011 có ý kiến trình bày: Hiện nay, cháu đang sinh sống cùng nhà với bố mẹ cháu. Cháu có biết bố mẹ cháu đang làm thủ tục ly hôn tại Toà án, cháu không muốn bố mẹ cháu ly hôn, nhưng nếu bố mẹ vẫn ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với mẹ.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, của thư ký đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo thực hiện nghiêm túc, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Đối với bị đơn đã vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án, kiểm sát viên đã phân tích đánh giá thực trạng mâu thuẫn của chị H, anh T đã trầm trọng, kéo dài, đến nay vợ chồng không thể chung sống đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H và anh T ly hôn. Về con chung, đề nghị giao cháu Đào Quế P1, sinh ngày 02/11/2011 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về phân chia tài sản chung, chị H không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét về quyền kháng cáo của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện của chị H thì thấy đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị H, anh T kết hôn năm 2005 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu; đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Lời khai của chị H và anh T đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng hay cãi nhau, anh chị xác định không còn tình cảm với nhau, tình trạng mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, kéo dài, chị H kiên quyết xin ly hôn, HĐXX căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh T.
[3]. Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Đào Thanh P, sinh ngày 10/8/2006; Đào Quế P1, sinh ngày 02/11/2011. Hiện nay, hai cháu vẫn khoẻ mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Quế P1 và đề nghị Toà án giao cháu Đào Thanh P cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh T trình bày: hiện nay cháu P đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết, đối với cháu P1 anh đồng ý để chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hội đồng xét xử thấy, hiện nay cháu Đào Thanh P đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết, đối với cháu Đào Quế P1 là người chưa thành niên, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt, cũng như để ổn định, không gây xáo trộn cuộc sống cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đào Quế P1, sinh ngày 02/11/2011.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau này, vì quyền lợi của con chung các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[5]. Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[7]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đào Thanh Tùng.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Đào Quế P1, sinh ngày 02/11/2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh anh T thực hiện quyền này.
Sau này, vì quyền lợi của con chung các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007660 ngày 26/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị H, anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Thị Thiêm |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hồng anh Tùng
