Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số 55/2024/HSST

Ngày 28/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà :Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Đình Cự và bà Nguyễn Thị Vĩnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa:Ông Phan Vũ Trang - Kiểm sát viên

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định xét xử số 54/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với;

Các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Đức T, tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; Sinh ngày 29/5/1999, tại xã Đ, huyện Đ, Thái Bình

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông : Bùi Đức T1, sinh năm 1965; Con bà: Bùi Thị B, sinh năm 1972; Vợ con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 21/01/2018 C1 Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Tháng 02/2020 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Trung đoàn D2, Sư đoàn C2 đến ngày 14/01/2022 xuất ngũ về địa phương;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 25/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

2. Họ và tên: Hoàng Ngọc P, tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; Sinh ngày 27/6/2002; Tại: xã Đ, huyện Đ, Thái Bình

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Ngọc G, sinh năm 1965; Con bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1970; Vợ con : Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tháng 03/2021 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Lữ đoàn B1 đến tháng 01/0023 xuất ngũ về địa phương;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 25/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Các bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Anh Nguyễn Đình D, sinh ngày 18/8/2006

Người đại diện hợp pháp cho anh D:

Bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1986 – Là mẹ đẻ anh Dương

Đều ở địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện Đ, Thái Bình.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi liên quan: Ông Hoàng Ngọc S, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P là bạn bè. Khoảng 07 giờ ngày 19/01/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS biển số 60N2- 5035 sơn màu đỏ-đen của P chở P đi làm ở Công ty V ở huyện Q tỉnh Thái Bình. Khi đi trên đoạn đường cánh đồng thuộc xã Q huyện Q do cả hai không có tiền chi tiêu, nên T nói với P giờ làm ở Công ty chẳng được bao nhiêu tiền và rủ P cùng nhau đi cướp giật điện thoại bán lấy tiền chi tiêu, thì P đồng ý. T dừng xe lại tháo biển số xe mô tô giấu vào cốp xe, cả hai bàn bạc sẽ chọn đối tượng đi xe điện đang sử dụng điện thoại để cướp giật, nếu khi phát hiện được đối tượng thì T sẽ áp sát xe để P ngồi sau giật điện thoại rồi T lái xe tẩu thoát. Thực hiện ý định đó, T và P di chuyển dọc trên tuyến đường huyện Đ để thực hiện hành vi cướp giật như đã bàn bạc. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày khi đi qua đoạn đường Quốc lộ 39A thuộc địa phận thôn C, xã P, huyện Đ cả hai nhìn thấy anh Nguyễn Đình D đi xe máy điện một mình theo hướng huyện Đ đi huyện H vừa đi vừa cầm chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XR Max ở tay trái để nghe. Thấy vậy T nói với P “thằng kia được đấy em ạ”. T đi xe song song với anh D còn P ngồi sau dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại từ tay của anh D, T điều khiển xe tăng ga bỏ chạy. Sau khi cướp giật được điện thoại, T và P đi hướng xã M, qua xã L sang huyện Q mục đích để bán điện thoại, nhưng không bán được do điện thoại bị khóa màn hình, nên T và P đi về. Sau đó, trên đường về P nói với T bán điện thoại chẳng được bao nhiêu tiền, để P dùng và đưa lại cho T 300.000 đồng, T đồng ý. Do chưa có tiền nên P hẹn T sẽ trả sau. Đến ngày 21/01/2024, Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P đến Công an huyện Đ đầu thú khai nhận hành vi cướp giật của mình như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại Iphone XR Max để trả lại cho người bị hại.

Bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Thái Bình, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR Max, vỏ màu xám, loại 64GB, IMEI 357347091556476 đã qua sử dụng, kính lưng bị vỡ, tính đến thời điểm bị xâm hại có trị giá là 3.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Đức T tại thôn T, xã Đ, huyện Đ và Hoàng Ngọc P, nơi cư trú thôn T, xã Đ, huyện Đ không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR Max, vỏ màu xám, loại 64GB, IMEI 357347091556476 đã qua sử dụng, kính lưng bị vỡ của anh Nguyễn Đình D. Ngày 23/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Nguyễn Đình D.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveRS biển số 60 N2 5035 sơn màu đỏ - đen đã qua sử dụng là của anh Hoàng Ngọc S đã cho bị cáo P; bị cáo P sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã chuyển theo hồ sơ vụ án đề giải quyết theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đình D đã nhận lại chiếc điện thoại còn nguyên vẹn anh D và đại diện hợp pháp của anh D không có ý kiến gì về việc bồi thường, xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

Các bị cáo đều ăn năn hối cải về việc làm của mình mong bị hại tha thứ, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bản cáo trạng số 51/CT - VKSĐH ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố các bị cáo Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 các Điều 17, 38, 50, 58 BLHS, đối với cả hai bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, xử phạt bị cáo P mức án từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí

Trong phần tranh luận tại phiên tòa: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận đề nghị của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi liên quan: Ông S vắng mặt tại phiên tòa không có ý kiến trình bày

Khi nói lời sau cùng: Các bị cáo T, P rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân. Các bị cáo cho rằng do không hiểu biết pháp luật dẫn đến phạm tội, xin lỗi tới bị hại và mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và hứa sẽ cải tạo tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi liên quan; phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 19/01/2024, tại đoạn đường Q thuộc địa phận thôn C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P đã có hành vi sử dụng xe mô tô là phương tiện để thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR Max, vỏ màu xám, loại 64GB, IMEI 357347091556476 của anh Nguyễn Minh D1, có trị giá 3.000.000 đồng.

Do vậy hành vi của các bị cáo Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Điều 171. Tội cướp giật tài sản

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

  • a, C tổ chức;
  • b, Có tính chất chuyên nghiệp;
  • c, Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
  • d, Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
  • 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự xã hội được pháp luật bảo vệ.

Hành vi của các bị cáo thể hiện việc coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Do vậy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ sức răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy:

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn trong đó Bùi Đức T là người rủ rê khởi xướng, lôi kéo chỉ đạo phân công và cũng là người thực hành. T dùng phương tiện là xe mô tô anh S cho chở P đi cướp giật là người trực tiếp tháo biển xe mô tô, cất vào cốp, điều khiển xe chở P đi áp sát xe đạp điện do anh D1 đang điều khiển để P thực hiện hành vi giật tài sản là chiếc điện thoại của anh D1 có trị giá 3.000.000 đồng. Do vậy T giữ vai trò thứ nhất.

P là đồng phạm giúp sức cho T thực hiện hành vi phạm tội. P cũng là người thực hành tích cực, khi được T rủ rê P đã nhất trí thống nhất với sự phân công bàn bạc của T, ngồi sau xe mô tô do T điều khiển, trực tiếp thực hiện hành vi giật điện thoại để chiếm đoạt tài sản của anh D1. Do vậy P giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

- Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân không tốt đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc vào năm 2018. Bị cáo P là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện nộp lại tài sản để khắc phục hậu quả, có thời gian tham gia quân đội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR Max, vỏ màu xám, loại 64GB, IMEI 357347091556476 đã qua sử dụng, kính lưng bị vỡ của bị hại anh Nguyễn Đình D. Ngày 23/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Nguyễn Đình D là đúng thẩm quyền. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveRS biển số 60 N2 5035 sơn màu đỏ - đen đã qua sử dụng là của anh Hoàng Ngọc S anh trai của P đã cho P sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội do vậy cần tịch thu bán đấu giá sung quỹ nhà nước .

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh. Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P tội “Cướp giật tài sản”

2. Về áp dụng điều luật và mức hình phạt:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P.

Phạt: Bị cáo Bùi Đức T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/01/2024;

Phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc P 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu bán đấu giá sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveRS biển số 60 N2 5035 sơn màu đỏ - đen đã qua sử dụng, có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra công an huyện Đ và chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 16/4/2024.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV buộc các bị cáo Bùi Đức T và Hoàng Ngọc P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày với người có mặt tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/5/2024, với người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại; Đại diện hợp pháp của bị hại
  • - Người có nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an huyện Đông Hưng;
  • - VKSND huyện Đông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng;
  • - UBND xã Đông Sơn, UBND xã Đông La, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 55/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T và P phạm tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger