Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 55/2024/HSST

Ngày: 27-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Võ Thành Nhân

Ông Võ Quí Quốc

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/HSST ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 08/5/1992 tại tỉnh Tiền Giang; tên gọi khác: T; SỐ CCCD: [...]; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số A L, Phường F, thành phố M, Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (1968) và bà Cao Thị M (1972); Bị cáo có chồng tên Hồ Bửu T1 (1990) và có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh ngày 24/02/2023).

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Nhân thân : Ngày 27/11/2018, tại Bản án số 45/2018/HSST bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/9/2021.

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cao Thị M, sinh năm 1972. Có mặt

Địa chỉ: A L, Phường F, Tp M, Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 09 giờ 15 phút ngày 30/11/2023, tại đoạn đường trước Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 (TNHH M2) cấp nước tỉnh Tiền Giang, số D đường C khu phố F, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an thành phố M phối hợp Công an P2 tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Thị Trúc P có hành vi tàng trữ trái phép 41 gói nylon màu trắng chứa tinh thể màu trắng, được hàn kín, trong đó có 38 gói được dán trên 38 tờ vé số cũ đã xổ rồi và 03 gói nylon màu trắng bỏ vào 01 gói ny lon loại lớn hơn có vạch đỏ, tất cả được để trong một chiếc vớ màu vàng. Tất cả được để trong túi xách P đang đeo trên người nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng liên quan.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 02/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 7,0718 gam, loại Methamphetamine.

Nguyễn Thị Trúc P khai nhận: Chiều ngày 27/11/2023 P thấy có cuộc gọi nhỡ số lạ nên gọi lại thì gặp T2 (bạn quen biết ngoài xã hội, không rõ họ tên, địa chỉ), trong lúc nói chuyện P có hỏi mua ma túy đá với giá 3.000.000 đồng, T2 đồng ý bán cho P. Khoảng 30 phút sau T2 chạy đến giao ma túy tại đầu đường hẻm vào nhà của P. P đưa tiền và được T2 giao cho gói ma túy bên ngoài quấn khăn giấy màu trắng. P bỏ ma túy vào túi xách đem về nhà cất giữ. Đến 21 giờ cùng ngày, P lấy gói ma túy ra chia thành 43 gói nhỏ, trong đó 03 gói để trong bịch nylon màu trắng hàn kín có một viền đỏ, 40 gói ma túy còn lại mỗi gói P dán vào tờ vé số đã xổ rồi. Tất cả số ma túy trên P bỏ vào chiếc vớ màu vàng và cất trong túi xách màu đen có khóa kéo trắng, dây đeo màu đen của P. Vào tối ngày 27/11/2023 và 29/11/2023 P lấy 02 gói ma túy dán trên tờ vé số ra sử dụng một mình tại nhà của P. Đến khoảng 09 giờ ngày 30/11/2023, P mượn xe mô tô biển số 63C1-431.25 của bà Cao Thị M (là mẹ ruột và ngụ cùng địa chỉ) đi xuống chợ M3 để mua đồ. Khi P điều khiển xe đến trước Công ty TNHH MTV cấp nước tỉnh M2 thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra phát hiện P đang cất giấu 41 gói ma túy trong chiếc vớ màu vàng để ở túi xách mà P đang đeo trên người. Mục đích P cất giữ số ma túy trên là để sử dụng. Việc P phân chia ma túy thành các gói nhỏ và dán vào tờ vé số là để không cho cha mẹ P biết. Đối với dụng cụ phân chia ma túy và sử dụng ma túy P đã vứt bỏ.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSMT ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Nguyễn Thị Trúc P để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).

*Tại phiên tòa:

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Trúc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Trúc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được để trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 209 ghi ngày 02/12/2023 có in họ tên và chữ ký của các đồng chí: Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Thị Kiều L – Giám định viên; Nguyễn Quốc P1 – Trợ lý giám định, bên giao; ghi họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn T4, bên nhận và dấu mộc tròn màu đỏ ghi PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 túi vải màu đen có khóa kéo trắng và dây đeo màu đen.

+Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, Model TA-1034 loại phím bấm, bên trong có gắn sim Mobiphone có dãy số 8401230292048555.

-Bị cáo P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu, bị cáo không bào chữa cho hành vi phạm tội. Nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình, do thiếu suy nghĩ nên đã vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được về lo cho các con và cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Trúc P đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ảnh hiện trường, lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ, giám định vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 30/11/2023 tại đoạn đường trước Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cấp nước tỉnh M2, số D đường C Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang bị cáo Nguyễn Thị Trúc P bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 7,0718 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Trúc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật nhằm giáo dục cải tạo cho bị cáo trở thành công dân tốt và mang tính chất răn đe, giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về việc trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độthành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[3] Đối với đối tượng tên T2 bán ma túy cho P: do P khai không biết rõ họ tên, địa chỉ và cũng không lưu số điện thoại nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, hiện tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[4] Đối với xe mô tô biển số 63C1-431.25, đây là tài sản thuộc sở hữu của bà Cao Thị M (mẹ ruột bị cáo), khi P mượn xe đi chợ bà M không biết việc P sử dụng xe để tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả xe cho bà M là có cơ sở.

[5] Về xử lý vật chứng:

-Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được để trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 209 ghi ngày 02/12/2023 có in họ tên và chữ ký của các đồng chí: Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Thị Kiều L – Giám định viên; Nguyễn Quốc P1 – Trợ lý giám định, bên giao; ghi họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn T4, bên nhận và dấu mộc tròn màu đỏ ghi PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 túi vải màu đen có khóa kéo trắng và dây đeo màu đen, là công cụ để tàng trữ ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, Model TA-1034 loại phím bấm, bên trong có gắn sim Mobiphone có dãy số 8401230292048555, bị cáo có sử dụng để liên lạc mua ma túy, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Trúc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc P 05 (Năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 BLHS.

-Tịch thu tiêu hủy:

+Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được để trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 209 ghi ngày 02/12/2023 có in họ tên và chữ ký của các đồng chí: Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Thị Kiều L – Giám định viên; Nguyễn Quốc P1 – Trợ lý giám định, bên giao; ghi họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn T4, bên nhận và dấu mộc tròn màu đỏ ghi PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG.

+01 túi vải màu đen có khóa kéo trắng và dây đeo màu đen;

-Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, Model TA-1034 loại phím bấm; bên trong có gắn sim Mobiphone có dãy số 8401230292048555.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2024)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo P, bà M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn

Nguyễn Thị Bảnh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HSST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 55/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trong tờ vé số
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger