|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 55/2024/HS-PT Ngày 26 tháng 8 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Viết Anh |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Vũ |
| Ông Nguyễn Hà Giang |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Tiến M với Bản án hình sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo kháng cáo:
Họ tên: Phạm Tiến M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1988 tại C, Phú Thọ; Nơi cư trú: khu B, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: không xác định; Mẹ đẻ: Phạm Thị B, sinh năm 1954; Vợ: Phạm Thị Thu H, sinh năm 1992, hiện đều ở xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Con: Bị cáo có 04 người con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số: 65/2018/HSST ngày 30/11/2018 Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê xử phạt M 30 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 25.000.000đ, truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 80.450.000đ, án phí 200.000đ về tội Đánh bạc. M chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ ngày 15/7/2021, thi hành xong tiền phạt bổ sung, truy thu sung quỹ nhà nước ngày 25/8/2021, thi hành xong án phí ngày 30/11/2018.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 03/01/2024, chuyển tạm giam ngày 11/01/2024 đến ngày 08/3/2024 được thay thế tạm giam bằng bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người tham gia tố tụng khác Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20giờ 15 phút ngày 02/01/2024, tổ công tác của Công an huyện C phối hợp với Công an thị trấn C đang làm nhiệm vụ tại lối ra IC10 cao tốc Nội Bài – Lào Cai thuộc địa phận khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện xe ô tô biển kiểm soát: 24N-4186, nhãn hiệu TOYOTA, số loại INOVA màu sơn: Bạc, do Nguyễn Văn K, sinh năm 1989, trú tại khu Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ điều khiển có dấu hiệu nghi vấn vận chuyển hàng cấm. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ:
- - 05 (năm) thùng giấy có kích thước: 30cm x 47cm x 34cm, bên trong mỗi thùng giấy có 12 (mười hai) hộp bọc giấy hình hộp chữ nhật màu đỏ, có hoạ tiết và ký tự chữ nước ngoài, kích thước mỗi hộp là 10,7cm x 23cm x 14,8cm, trọng lượng mỗi thùng là 20kg (hai mươi kilogam), tổng 05 (năm) thùng có trọng lượng là 100kg (một trăm kilogam).
- - 02 (hai) thùng giấy có kích thước: 47cm x 47cm x 30cm, bên trong có 05 (năm) cuộn tròn màu đỏ, hoạ tiết có ký tự chữ nước ngoài có đường kính 45cm, cao 06cm, trọng lượng mỗi thùng là 13kg (mười ba kilogam), tổng 02 (hai) thùng có trọng lượng là 26kg (hai mươi sáu kilogam).
- - 01 (một) chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Toyota, số loại Innova, màu bạc, biển kiểm soát: 24N-4186, đã cũ.
- - 07 (bảy) túi bao tải xác rắn, màu xanh.
- - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A78, màu đen, có vỏ ốp màu xanh, số Imei 1: 8690080628676695, số Imei 2: 86900862867687 đã cũ, bên trong lắp 01 sim số 0981.332.289.
- - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng, số I: 358572077313977 đã cũ, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0344.268.316.
- - 01 (một) chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Văn K.
Tại chỗ Nguyễn Văn K khai nhận: 07 (bẩy) thùng trên là pháo hoa nổ, pháo nổ, K vận chuyển thuê cho Phạm Hùng C – sinh năm 1982 ở khu B, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ từ tỉnh Lào Cai về xã P, huyện C để bán, khi vận chuyển pháo đến địa phận huyện C thì bị phát hiện, bắt giữ.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định tạm giữ đối với Nguyễn Văn K và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn K tại khu Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, tạm giữ:
- - 01(một) vật hình lập phương kích thước 17cm x 17cm x 17cm, bên ngoài bọc giấy hoa văn nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, khối lượng là 1,6kg.
- - 01 (một) vật dạng dây được bọc ngoài bằng nilon màu đỏ và cuốn thành hình trụ tròn đường kính 16cm, cao 5cm, đầu dây có nilon bị bóc dở, khối lượng 0,5kg.
Ngày 03/01/2024, Phạm Hùng C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ của Phạm Hùng C:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S, màu đen, có Imei: 353339072013860 bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0787.176.584.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, mặt trước màu đen, mặt sau màu bạc, có số Imei 353304545433947 bên trong lắp 01 sim có số thuê bao 0981629041.
Kết quả điều tra xác định hành vi của các đối tượng Buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm như sau:
Do có quen biết từ trước nên khoảng tháng 07/2023, Phạm Hùng C và Vàng Seo Q, sinh năm 1992, trú tại: Thôn T, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai đã thỏa thuận với nhau về việc nếu Q mua được pháo hoa nổ, pháo nổ thì Q bán cho C. Do làm việc ở gần biên giới nên Q có quen biết với một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, người này có bán pháo hoa nổ giàn 36 ống và pháo cuộn. Quan và người người đàn ông trên thoả thuận giá mua bán là 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng)/ 1 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống (mỗi thùng có chứa 12 giàn pháo), 1.000.000đ (Một triệu đồng)/1 bánh pháo cuộn và hẹn giao dịch mua bán pháo tại khu vực bãi đất trống gần biên giới huyện M, tỉnh Lào Cai và Trung Quốc, khi nào cần mua pháo thì Q sẽ liên hệ qua ứng Wechat với người đàn ông trên để thống nhất thời gian, địa điểm giao pháo. Quan thông báo lại cho C biết việc có thể mua pháo về bán và thống nhất với C giá bán pháo là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng)/1 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống (mỗi thùng có chứa 12 giàn pháo) và 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/1 bánh pháo cuộn. Như vậy, Q được hưởng tiền lời là 1.500.000 đồng/ 1 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống và 500.000 đồng/ 1 bánh pháo cuộn. C và Q thống nhất với nhau khi nào C cần mua pháo thì sẽ liên lạc với Q qua ứng dụng Wechat hoặc qua số điện thoại. C mua và sử dụng 01 sim rác có số điện thoại là 0787.176.xxx, tài khoản wechat là “1”, 01 tài khoản ngân hàng L ở trên mạng có số tài khoản là 061002540001 mang tên “Hoang Vu D”. Quan sử dụng số điện thoại là 0376.416.xxx, tài khoản wechat là “vangquan”. Mỗi lần mua bán pháo, C sẽ gặp Q để thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển tiền từ số tài khoản C mua trên vào số tài khoản ngân hàng V2 của Q là 10577810051. Khi mua bán pháo hoa nổ thì người đàn ông bán pháo cho Q, Q và C chỉ thoả thuận mua bán theo số lượng thùng chứ không tiến hành cân khối lượng từng giàn, từng thùng hoặc đo kích thước từng giàn, từng thùng để tính tiền.
Để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, ngày 21/7/2023 C đã thuê 01 chiếc xe ô tô TOYOTA INNOVA, màu bạc, biển kiểm soát: 24N-4186, đã cũ của anh Hà Văn T, sinh năm 1987 ở Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai với giá 10.000.000đ/ tháng để làm ăn, nhưng thực chất là để làm phương tiện đi vận chuyển pháo (Anh T không biết việc C thuê xe của mình để làm phương tiện vận chuyển pháo). C liên hệ với Nguyễn Văn K hai bên thống nhất về việc C mua pháo ở tỉnh Lào Cai về để bán và bảo K sẽ điều khiển chiếc xe ô tô trên lên huyện M, tỉnh Lào Cai để gặp Q nhận pháo và vận chuyển pháo hoa nổ về huyện C, tỉnh Phú Thọ cho C, mỗi chuyến C trả cho K 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền công và 3.000.000đ (ba triệu đồng) tiền xăng xe, phí cao tốc, tiền ăn uống. Ngoài ra, K sẽ điều khiển xe chở C đi giao pháo cho người mua, nếu K biết ai có nhu cầu mua pháo thì giới thiệu cho C. C cũng kể cho một số người quen biết về việc C có bán pháo, nếu ai có nhu cầu thì liên hệ với C. Từ tháng 10/2023 đến ngày 02/01/2024, C mua pháo hoa nổ, pháo nổ của Quan 03 lần, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng tháng 09/2023, C liên hệ với V Seo Quan đặt mua 05 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống, mỗi thùng chứa 12 giàn pháo, mỗi giàn pháo có kích thước khoảng 17cm x 17cm x 17cm và 01 bánh pháo cuộn (theo lời khai của C, Q). Tổng số tiền C mua pháo của Q là 31.500.000đ (ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng), Q cho C 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). C đã thanh toán trước số tiền 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu đồng) bằng cách chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của Q. Quan hẹn đến đầu tháng 10 mới có pháo để bán cho C.
Trong khoảng tháng 10 năm 2023, một lần C đi một mình lên tỉnh Lào Cai để buôn gỗ thì gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ có bán pháo hoa nổ giàn 36 ống, kích thước mỗi giàn là 14cm x 14cm x 10cm (theo lời khai của C) và pháo trứng. C đã mua của người này 01 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và 03 thùng pháo trứng (mỗi thùng có khoảng hơn 400 quả pháo trứng) với giá 12.000.000 đồng/1 thùng. C đã thanh toán cho người đàn ông trên số tiền mua pháo là 42.000.000đ (bốn mươi hai triệu đồng). Sau đó, C mang số pháo này về nhà cất giấu.
Đến đầu tháng 10/2023, Q mua được pháo nên liên hệ bảo C lên nhận pháo. Q đã thanh toán cho người bán pháo số tiền mua pháo là 23.500.000đ (hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Lần bán pháo này cho C thì Q thu lời số tiền là 7.500.000đ (bẩy triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi Q thông báo, C đã bảo K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 24N-4186 đi gặp Q và vận chuyển 05 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống, mỗi thùng chứa 12 giàn pháo, mỗi giàn pháo có kích thước khoảng 17cm x 17cm x17cm và 01 bánh pháo cuộn về huyện C, tỉnh Phú Thọ cho C. Khi vận chuyển về huyện C, K cùng C điều khiển xe ô tô đi bán pháo cho Nguyễn Văn T1, sinh năm 1980, nơi cư trú: khu S, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ và Hoàng Văn N, sinh năm 1994, nơi cư trú: khu B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể: C và K đi bán cho Nguyễn Văn T1 ở khu S, xã H, huyện C, 02 thùng pháo hoa nổ mà C mua của Q loại giàn 36 ống, mỗi thùng chứa 12 giàn pháo, mỗi giàn pháo có kích thước khoảng 17cm x 17cm x 17cm (theo lời khai của đối tượng C, K và T1) với giá 9.000.000đ (chín triệu đồng)/ 1 thùng. T1 đã trả cho C số tiền mua pháo là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng). Sau đó, C và K tiếp tục bán cho Hoàng Văn N ở khu B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ 01 thùng pháo hoa nổ mà C mua của Q loại giàn 36 ống, mỗi giàn pháo có kích thước khoảng 17cm x 17cm x 17cm (theo lời khai của đối tượng C, K và N) với giá 9.000.000đ (chín triệu đồng). N đã thanh toán cho C số tiền mua pháo là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). T1 và N mua số pháo trên của C với mục đích để sử dụng.
C một mình mang đến nhà Phạm Tiến M, sinh năm 1988, trú tại: Khu B, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ để bán cho M 02 thùng pháo gồm 01 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống (loại pháo có kích thước mỗi giàn khoảng 17cm x 17cm x 17cm mà C mua của Q), 01 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống (loại pháo có kích thước mỗi giàn 14cm x 14cm x 10cm mà C mua của người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ) với giá 9.000.000đ (chín triệu đồng)/1 thùng, 03 thùng pháo trứng với giá 15.000.000 đồng/1 thùng. Tổng số tiền C bán pháo cho M là 63.000.000đ (Sáu mươi ba triệu đồng). Còn 01 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống, thùng có 12 giàn và 01 bánh pháo cuộn mà C mua của Q, C cho K 01 giàn pháo hoa nổ và 01 đoạn pháo cuộn. K mang về cất ở nhà mình, mục đích để nếu ai hỏi mua thì K sẽ bán. Số pháo còn lại là 11 giàn và cuộn pháo còn lại thì C bán lẻ cho một số người không quen biết với giá 900.000 (chín trăm nghìnđồng)/ 1 giàn pháo hoa nổ giàn 36 ống (11 giàn bằng 9.900.000đ) và cuộn pháo bánh còn lại giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìnđồng). Tổng tiền C bán pháo là 101.400.000đ (một trăm linh một triệu bốn trăm nghìn đồng), lần bán pháo này C thu lời được số tiền là 28.400.000đ (hai mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng). C đã trả cho K 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền công và 3.000.000đ (ba triệu đồng) tiền chi phí đi đường, số tiền còn lại là 20.400.000đ (hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng) C chi tiêu cá nhân hết. M mua số pháo hoa nổ trên với mục đích để bán cho ai có nhu cầu mua.
Lần thứ hai, khoảng đầu tháng 12/2023, C tiếp tục liên hệ với Vàng Seo Q và đặt mua 10 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống, mỗi thùng 12 giàn pháo (kích thước mỗi giàn là khoảng 17cm x 17cm x 17cm theo lời khai của C và Q). Quan vẫn liên hệ với người đàn ông mà lần trước Q mua pháo và đặt mua 10 thùng pháo hoa nổ với giá 4.500.000đ/ thùng. Vài ngày sau, Q mua được pháo hoa nổ và thông báo C lên lấy. C đã bảo K lên gặp Q để vận chuyển pháo về. Khi K vận chuyển pháo về đến huyện C, C cùng K đến nhà Phạm Tiến M và bán cho M 08 thùng pháo với giá 9.000.000đ (chín triệu đồng)/1 thùng, tổng số tiền M mua pháo của C là 72.000.000đ (bẩy mươi hai triệu đồng). C cho M 2.000.000đ (hai triệu đồng) và trừ luôn 70.000.000đ (bẩy mươi triệu đồng) còn lại vào số tiền C đang nợ M, do đó M không phải trả tiền cho C nữa. Đối với 02 thùng pháo hoa còn lại, C bán lẻ cho những người không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 900.000 (chín trăm nghìn đồng)/ 1 giàn, được tổng số tiền là 21.600.000đ (hai mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng). Số tiền mua pháo hoa nổ, C đã gặp và thanh toán cho Q là 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) như vậy Quan thu lời số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Lần bán pháo này, C thu lời số tiền là 31.600.000đ (ba mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng). C trả cho K 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền côngvà 3.000.000đ (ba triệu đồng) tiền chi phí đi đường, số tiền còn lại là 23.600.000đ (hai mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng) C chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn N mua pháo của Phạm Hùng C, T1 cất giấu 02 thùng pháo gồm 24 giàn pháo hoa nổ giàn 36 ống trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ của bản thân với mục đích để sử dụng vào các ngày lễ, tết, tuy nhiên T1 chưa sử dụng giàn pháo nào. N cũng để riêng 03 giàn pháo ra để sử dụng và cất giấu 09 giàn pháo còn lại lên gác xép xưởng mộc của gia đình để sử dụng vào các dịp lễ tết, tuy nhiên 03 giàn pháo N để riêng bị dính nước không thể sử dụng được nên N đã vứt đi.
Phạm Tiến M sau khi mua pháo của Phạm Hùng C thì cất giấu tại nhà mình với mục đích để bán kiếm lời. M khai nhận thì M đã bán cho Trịnh Hoài N1, sinh năm 1987 ở khu B, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ 02 giàn pháo hoa nổ giàn 36 ống, kích thước giàn khoảng 17cm x 17cm x 17cm với giá 900.000đ (chín trăm nghìn đồng)/1 giàn, bán cho Nguyễn Văn A, sinh năm 1995 ở: khu T, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ 05 giàn pháo hoa nổ 36 ống kích thước giàn khoảng 17cm x 17cm x 17cm, và 09 giàn (trong đó 07 giàn có kích thước khoảng 14cm x 14cm x 10cm và 02 giàn kích thước kích thước khoảng 17cm x 17cm x 17cm) cho một số người lạ không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 1.000.000đ(một triệu đồng)/1 giàn. Tổng số tiền bán pháo được là 15.800.000đ (mười lăm triệu tám trăm nghìn đồng). M đã tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã triệu tập, lấy lời khai Trịnh Hoài N1, Nguyễn Văn A. Tại cơ quan điều tra, N1 và A không thừa nhận việc mua pháo hoa nổ của M như M đã khai.
Lần thứ ba, ngày 01/01/2024, Phạm Hùng C tiếp tục liên lạc với Vàng S để đặt mua của Quan 07 thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống, mỗi thùng có 12 giàn có kích thước khoảng 10,7cm x 23cm x 14,8cm với giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng)/thùng và 02 thùng bánh pháo cuộn, mỗi thùng chứa 5 cuộn, mỗi cuộn có đường kính 45cm, cao 06cm với giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng)/cuộn (7.500.000đ/ thùng pháo cuộn) với tổng số tiền là 57.000.000đ (năm mươi bẩy triệu đồng). Q đã mua 07 thùng pháo hoa nổ loại giàn 36 ống, 02 thùng pháo nổ dạng pháo cuộn với giá tiền 4.500.000đ/ thùng pháo hoa nổ giàn 36 ống (mỗi thùng có chứa 12 giàn pháo), 1.000.000đ/một bánh pháo cuộn, tổng số tiền pháo Q mua là người này là 40.500.000đ (bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được pháo hoa nổ, pháo nổ, Q liên lạc với C và hẹn C ngày 02/01/2024 lên gặp Q để lấy pháo. C liên lạc với K và bảo K một mình lên Lào Cai vận chuyển pháo về cho mình, K đồng ý. Sáng ngày 02/01/2024, C chuyển khoản cho Q số tiền là 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) để trả trước một phần tiền mua pháo, còn 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) khi nào nhận được pháo sẽ thanh toán sau. Lần bán pháo này cho C thì Q thu lời số tiền 16.500.000đ (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). C giao cho K điều khiển xe ô tô TOYOTA INNOVA, biển kiểm soát 24N-4186 lên huyện M, tỉnh Lào Cai và gặp Q để nhận pháo về. K gặp Q và nhận đủ 07 thùng pháo hoa nổ giàn 36 và 02 thùng đựng pháo cuộn. K điện thoại cho C báo đã nhận đủ hàng và điều khiển xe chở pháo về. Khi đang đi trên cao tốc N - Lào Cai thì C gọi điện yêu cầu K ra tại IC11 thuộc huyện H, tỉnh Phú Thọ. Khi gặp K, C đã lấy hai thùng pháo hoa nổ loại giàn 36 để lên xe ô tô nhãn hiệu FORD BKS: 19C-220.12 (C mượn xe của anh Nguyễn Đức Q1 – sinh năm 1988 ở khu B, xã P, huyện C, anh Q1 không biết việc C mượn xe của anh để đi mua bán pháo) do C điều khiển. Sau đó, C điều khiển xe đi, còn K tiếp tục điều khiển xe ô tô BKS: 24N-4189 đi theo đường C - Lào Cai đi về C. Khi đi đến khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ thì bị Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang như đã nêu ở trên. Khi nghe tin K bị bắt, C đã bỏ chạy và ném 02 thùng pháo xuống ngòi nước tiếp giáp giữa huyện C và huyện H.
Tại cơ quan điều tra, C, K đã khai nhận hành vi mua pháo nổ, pháo hoa nổ của Vàng Seo Quan về bán cho Phạm Tiến M, Nguyễn Văn T1 và Hoàng Văn N như đã nêu ở trên.
Ngày 02/01/2024 và ngày 03/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Phạm Hùng C tại khu B, xã P, huyện C, Phạm Tiến M tại khu B, xã P, huyện C, Hoàng Văn N tại khu B, thị trấn Y, huyện Y và Nguyễn Văn T1 tại khu S, xã H, huyện C:
Tại nhà ở của Phạm Hùng C: không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại nhà ở của Phạm Tiến M thu giữ:
- + Tại vị trí thùng xe ô tô nhãn hiệu Hyundai biển kiểm soát: 30F-6063.
- 02 thùng cát tông đều có đặc điểm bên ngoài in chữ nước ngoài, bên trong mỗi thùng có chứa 12 khối hình hộp có kích thước 16,5cm x 16,5cm x 17cm, bên ngoài mỗi khối hộp được bọc giấy nhiều màu, in họa tiết và chữ nước ngoài, tại cạnh của hình hộp có gắn 01 đoạn dây dẫn màu xanh, bên trong khối hình hộp là 36 vật hình trụ tròn (ký hiệu lần lượt là thùng số 1, thùng số 2).
- + Tại vị trí khu vực chuồng gà thu giữ:
- 01 thùng cát tông có đặc điểm: bên ngoài in chữ nước ngoài, bên trong thùng có 432 vật một đầu hình tròn, một đầu dán giấy vàng, in chữ nước ngoài và gắn 01 dây dẫn màu xanh (ký hiệu là thùng số 3).
- 01 thùng cát tông có đặc điểm: Bên ngoài in chữ nước ngoài, bên trong thùng có 419 vật một đầu hình tròn, một đầu dán giấy vàng, in chữ nước ngoài
- + Tại vị trí lối vào phòng bếp thu giữ:
- 01 thùng cát tông có đặc điểm: bên ngoài có in chữ nước ngoài, bên trong có 03 khối hình hộp, mỗi khối hình hộp có kích thước 16,5cm x 16,5cm x 17cm, bên ngoài mỗi khối bọc giấy nhiều màu, có in hoạ tiết và chữ nước ngoài. Tại cạnh của các khối hình hộp có gắn 01 dây dẫn màu xanh, bên trong mỗi khối hình hộp là 36 vật hình trụ tròn; 05 hình hộp mỗi khối hình hộp có kích thước 14cm x 14cm x 10cm, bên ngoài mỗi khối hộp được bọc giấy nhiều màu, in họa tiết và chữ nước ngoài và gắn 01 dây dẫn màu xanh, bên trong mỗi khối là 36 vật hình trụ tròn (ký hiệu là thùng số 05).
- 01 thùng cát tông có đặc điểm: bên ngoài có in chữ, bên trong thùng có chứa 227 vật một đầu hình trụ tròn, một đầu có dán giấy màu vàng, in chữ nước ngoài và gắn 01 dây dẫn màu xanh (ký hiệu là thùng số 06).
- + Tại vị trí phòng ngủ thu giữ:
- 06 thùng cát tông đều có đặc điểm: bên ngoài có in chữ nước ngoài, bên trong mỗi thùng giấy đều có chứa 12 khối hình hộp có kích thước 16,5cm x 16,5cm x 17cm, bên ngoài mỗi khối hộp được bọc giấy nhiều màu, in họa tiết và chữ nước ngoài. Tại cạnh mỗi khối hình hộp có gắn 01 dây dẫn màu xanh, bên trong khối hình hộp là 36 vật hình trụ tròn (ký hiệu các thùng lần lượt là số 07, 08, 09, 10, 11, 12).
- + Tại hàng ghế sau của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai BKS: 88A-05957 thu giữ 01 túi nilon màu xanh bên trong túi nilon có 40 vật có đặc điểm một đầu hình trụ tròn, một đầu dán giấy vàngin chữ nước ngoài và gắn 01 dây dẫn màu xanh (ký hiệu thùng số 13).
Tại nhà ở của Hoàng Văn N thu giữ: Tại gác xép trong khu vực xưởng mộc 01 thùng cát tông bên trong có 09 khối hình hộp có kích thước 17 cm x 17cm x 17cm, bên ngoài mỗi khối hộp được bọc giấy nhiều màu, in họa tiết và chữ nước ngoài, bên trong các khối hình hộp là 36 ống hình trụ có trọng lượng là 14,6kg.
Tại nhà ở của Nguyễn Văn T1 thu giữ: Trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ số 1 có 02 bao tải sắc rắn bên trong mỗi tải có chứa 01 thùng bìa cát tông, bên trong mỗi thùng bìa cát tông có 12 khối hộp kích thước 17cm x 17cm x 17,5cm, bên ngoài mỗi khối hộp được bọc giấy nhiều màu, in họa tiết và chữ nước ngoài có khối lượng là 41kg.
Ngày 03/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Hoài N1 ở khu B, xã P, huyện C; Nguyễn Văn A ở khu Đ, xã T, huyện C nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 04/01/2024, Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vàng S ở thôn T, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 03/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã:
Tạm giữ của Phạm Tiến M:
- - 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Huyndai, màu sơn bạc, BKS: 88A-059.57, kèm chìa khóa xe và 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0333809 đối với xe ô tô trên.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã cũ, bên trong lắp 02 sim số thuê bao là 0862.432.817 và 0963.711.222.
- - 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Tiến M.
Tạm giữ của Nguyễn Văn T1:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A76, màu xanh, có số Imei 1: 869571050268739, số Imei 2: 869571050268721 đã cũ, trong điện thoại lắp 02 sim số thuê bao 0978.605.679 và 0962.123.917.
Tạm giữ của Hoàng Văn N:
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, màu đen, số I 355076047577565 đã cũ, bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0986.234.007.
Tạm giữ của anh Phạm Văn C1, sinh năm 1997 ở khu B, xã P, huyện C: 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, loại Porter, BKS: 30F-6063.
Ngày 04/01/2024, Cơ quan CSĐT tạm giữ của V Seo Quan: 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, mặt trước màu trắng, mặt sau màu hồng, có số Imei: 354831099913915 đã cũ, bên trong lắp 01 sim có số thuê bao 0376.416.782.
Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh P giám định đối với số pháo đã thu giữ trên. Ngày 06/01/2024, Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận:
- Tại Kết luận giám định số: 28/KL-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận mẫu vật thu giữ khi khám xét nơi ở của Phạm Tiến M như sau:
- 96 khối hộp mỗi khối hộp có kích thước 16,5cm x 16,5cm x 17cm (ký hiệu thùng số 1,2, 7,8,9,10,11,12) có tổng khối lượng là 153,6kg.
- Ký hiệu thùng số 5 gồm: 03 khối hộp mỗi khối hộp có kích thước 16,5cm x 16,5cm x 17cm có tổng khối lượng là 5,1kg và 05 khối hộp mỗi khối hộp có kích thước 14cm x 14cm x 10cm có tổng khối lượng là 5,2kg. Tổng khối lượng pháo ở thùng số 5 là 10,3kg.
- - 432 vật đều có hình dạng một đầu hình tròn, một đầu dán giấy vàng, in chữ nước ngoài (ký hiệu thùng số 3) có tổng khối lượng là 12,6kg.
- - 419 vật đều có hình dạng một đầu hình tròn, một đầu dán giấy vàng, in chữ nước ngoài (ký hiệu thùng số 4) có tổng khối lượng là 12,2kg.
- - 227 vật đều có hình dạng một đầu hình tròn, một đầu dán giấy vàng, in chữ nước ngoài (ký hiệu thùng số 6) có tổng khối lượng là 6,6kg.
- - 40 vật đều có một đầu hình tròn, một đầu dán giấy vàng, in chữ nước ngoài (ký hiệu thùng số 13) có tổng khối lượng là 1,3kg.
Tổng khối lượng mẫu vật thu của Phạm Tiến M là 196,6kg (một trăm chín mươi sáu phẩy sáu kilogam) đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng trong không gian).
Pháo hoa nổ được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 3 Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính Phủ về quản lý và sử dụng pháo.
H1 lại đối tượng giám định: 174,3kg (một trăm bẩy mươi tư phảy ba kilogam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả bao gói được niêm phong dán kín trong 13 thùng giấy cát tông, bên ngoài mỗi thùng đều được dán kín bằng băng dính màu trắng và 03 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong.
- Tại Kết luận giám định số: 29/KL-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận như sau:
Mẫu vật thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn K: 10 cuộn tròn mỗi cuộn có đường kính 45cm, cao 06cm đều là pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng nổ) có tổng khối lượng là 25,6kg.
60 khối hộp hình chữ nhật có kích thước 10,7cm x 23cm x 14,8cm đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng trong không gian) có tổng khối lượng là 93kg.
Mẫu vật thu giữ khi khám xét khẩn chỗ ở của Nguyễn Văn K: 01 khối hộp có kích thước 17cm x 17cm x 17cm đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng trong không gian) có tổng khối lượng là 1,6kg.
01 tràng dài 3,08m, rộng 4,5cm, dày 0,5cm tròn có đường kính 16cm, cao 05cm là pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng nổ) có khối lượng là 0,5kg.
Tổng khối lượng mẫu vật thu của Nguyễn Văn K là 120,7kg (Một trăm hai mươi phẩy bẩykilogam) pháo nổ và pháo hoa nổ.
Pháo nổ, pháo hoa nổ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính Phủ về quản lý và sử dụng pháo.
H1 lại đối tượng giám định: 104,3kg (một trăm linh bốn phảy ba kilogam) pháo hoa nổ và pháo nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói được niêm phong dán kín trong 08 thùng giấy cát tông, bên ngoài mỗi thùng đều được dán kín bằng băng dính màu trắng và 03 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong.
- Tại Kết luận giám định số: 30/KL-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận mẫu vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Hoàng Văn N như sau: 09 khối hình hộp kích thước 17 cm x 17cm x 17cmthu giữ của Hoàng Văn N đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng trong không gian) có tổng khối lượng là 14,6kg (mười bốn phẩy sáu kilogam).
Pháo hoa nổ được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 3 Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính Phủ về quản lý và sử dụng pháo.
H1 lại đối tượng giám định: 11,4kg (mười một phẩy bốn kilogam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói được niêm phong dán kín trong 01 thùng giấy cát tông, bên ngoài thùng được dán kín bằng băng dính màu trắng và 05 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong.
- Tại Kết luận giám định số: 31/KL-KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận mẫu vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn T1 như sau: 24 khối hộp mỗi khối có kích thước 17cm x 17cm x 17,5cmthu giữ của Nguyễn Văn T2 là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng trong không gian) có tổng khối lượng là 41kg(bốn mươi mốt kilogam).
Pháo hoa nổ được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 3 Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính Phủ về quản lý và sử dụng pháo.
H1 lại đối tượng giám định: 36kg (ba mươi sáu kilogam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói được niêm phong dán kín trong 02 thùng giấy cát tông, bên ngoài mỗi thùng được dán kín bằng băng dính màu trắng và 05 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong.
Đối với số pháo mà Phạm Hùng C bán Hoàng Văn N đã vứt đi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được, không xác định được khối lượng.
Đối với số pháo mà C đã bán cho Phạm Tiến M, do khi mua C và M không thống nhất với nhau về khối lương, hiện nay, số pháo mà M đã bán thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được nên không xác định được khối lượng.
Đối với số pháo Phạm Hùng C mua của V Seo Quan và mua của người đàn ông C không biết tên, tuổi, địa chỉ mà C đã bán cho M, bán cho Hoàng Văn N mà N đã vứt đi và số pháo mà C bán cho một số người khác không nhớ tên, tuổi địa chỉ, do khi mua, C cùng Q và người đàn ông không thống nhất với nhau về khối lượng, hiện nay, số pháo trên đã bán, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được nên không xác định được khối lượng.
Căn cứ vào số pháo đã thu giữ và những tài liệu thu thập được, xác định:
- - Nguyễn Văn T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 41kg pháo hoa nổ T1 tàng trữ với mục đích để sử dụng bị thu giữ khi khám xét.
- - Hoàng Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 14,6 kg pháo hoa nổ CSĐT Công an huyện C thu giữ khi khám xét và 03 giàn pháo hoa nổ không xác định được khối lượng (do N đã vứt đi) với mục đích để sử dụng.
- - Phạm Tiến M phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 196,6 kg pháo nổ và pháo hoa nổ mục đích để bán Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thu giữ khi khám xét và 16 giàn pháo hoa nổ không xác định được khối lượng do M đã bán.
- - Phạm Hùng C phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng là 372,9kg gồm 118,6kg pháo hoa nổ thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn K và 02 thùng pháo hoa nổ C vứt đi khi nghe tin K bị bắt không xác định được khối lượng với mục đích để bán; 2,1kg pháo nổ, pháo hoa nổ C cho Nguyễn Văn K; 41 kg pháo hoa nổ bán cho Nguyễn Văn T1, 14,6 kg pháo hoa nổ bán cho Hoàng Văn N và 03 giàn không xác định được khối lượng N đã vứt; 196,6 kg pháo nổ và pháo hoa nổ bán cho Phạm Tiến M và 16 giàn pháo hoa nổ không xác định được khối lượng do M đã bán; 35 giàn pháo hoa nổ, đoạn pháo cuộn không xác định được khối lượng do C đã bán.
- - Nguyễn Văn K biết việc C mua pháo hoa nổ, pháo nổ của Vàng Seo Quan để bán, tuy nhiên, K vận chuyển pháo nổ, pháo hoa nổ mà Phạm Hùng C mua của Vàng Seo Quan về huyện C và cùng C mang đi bán nên K đồng phạm với C về tội Buôn bán hàng cấm và phải chịu trách nhiệm về số pháo nổ, pháo hoa nổ mà C mua của V Seo Quan về để bán là 335kg. Đối với số pháo hoa nổ C mua của người đàn ông C không biết tên, tuổi, địa chỉ rồi C một mình mang đi bán cho M thì K không biết nên K không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- - Vàng Seo Q phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng là 335 kg, pháo nổ và pháo hoa nổ gồm 118,6kg pháo hoa nổ thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn K và 02 thùng pháo hoa nổ C vứt đi khi nghe tin K bị bắt không xác định được khối lượng; 158,7kg pháo hoa nổ thu giữ khi khám xét nhà Phạm Tiến M và 09 giàn pháo hoa nổ không xác định được khối lượng do M đã bán; 41kg pháo hoa nổ thu giữ của Nguyễn Văn T1; 14,6 kg pháo hoa nổ thu giữ của Hoàng Văn N và 03 giàn không xác định được khối lượng N đã vứt; 2,1kg pháo nổ, pháo hoa nổ C cho Nguyễn Văn K; 11 giàn pháo hoa nổ, đoạn pháo cuộn không xác định được khối lượng do C đã bán.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tài khoản mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần L mà Phạm Hùng C sử dụng để thực hiện giao dịch chuyển, nhận tiền nhằm thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm: chủ tài khoản Hoàng Vũ D1 – sinh ngày 22/01/1983, số căn cước công dân [...] do cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/9/2021, số điện thoại 0962.900.xxx, địa chỉ: V, Hà Giang. Tuy nhiên, xác minh tại Công an huyện V, Hà Giang thì trên địa bàn huyện không có công dân Hoàng Vũ D1 có số căn cước công dân như trên cư trú tại địa bàn huyện, kết quả tra cứu số căn cước công dân [...] do cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/6/2021 được cấp cho công dân Vừ Nhìa H2, sinh ngày 09/10/1983 ở Thôn L, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang.
Xác minh người đăng ký sử dụng số thuê bao 0787.176.584 là chị Đinh Thị M1 – sinh năm 2005 ở khu F, xã N, huyện Y, tuy nhiên chị M1 không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên, chị không biết và không liên lạc với ai có tên Phạm Hùng C.
Bản thân C cũng khai nhận C không quen biết người có tên Hoàng Vũ D1, Vừ Nhìa H2 và Đinh Thị M1 có thông tin, địa chỉ như trên.
Quá trình điều tra, anh Hà Văn T đề nghị số tiền thuê xe 32.000.000đ mà C còn nợ anh thì anh và C tự thoả thuận với nhau.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Hùng C, Vàng S, Nguyễn Văn K, Phạm Tiến M, Nguyễn Văn T1, Hoàng Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp nhau, phù hợp với lời khai người liên quan về loại pháo, giá trị tiền mua bán, thời gian, phương thức, thủ đoạn phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:
1. Về tội danh:
Áp dụng Điều 190 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Về hình phạt
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Tiến M 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 08/3/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo M.
Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật
Ngày 24/6/2024, bị cáo Phạm Tiến M kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Phạm Tiến M cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới là:
- - 01 đơn đề nghị của Phạm Tiến M ghi ngày 25/9/2023 có xác nhận của Công an thị trấn P ghi ngày 26/9/2023 với nội dung: Anh Phạm Tiến M đã cung cấp thông tin tố giác tội phạm trộm cắp tài sản để Công an thị trấn P đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
- - Các giấy khen của thân nhân bị cáo là người có công với cách mạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Xét thấy: Trong quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới để bổ sung cho việc xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là bị cáo đã tích cực giúp đỡ Cơ quan điều tra triệt phá tội phạm có xác nhận của Công an thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai nên được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tiến M. Sửa Bản án hình sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tiến M; Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Tiến M từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
[2] Căn cứ buộc tội đối với bị cáo:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 02/01/2024, tại lối ra IC10 cao tốc Nội Bài – Lào Cai thuộc địa phận khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện C phối hợp với Công an thị trấn C bắt quả tang Nguyễn Văn K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 24N-4186, nhãn hiệu TOYOTA, số loại INOVA vận chuyển hàng cấm là 93kg pháo hoa nổ; 25,6kg pháo nổ. Quá trình mở rộng điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chứng minh được như sau:
Từ khoảng đầu tháng 10/2023 đến 02/01/2024, tại huyện M, tỉnh Lào Cai, Vàng Seo Q đã có hành vi 03 lần bán pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo hiệu ứng màu sắc trong không gian), pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng nổ) có tổng khối lượng 335kg và 02 thùng pháo C vứt đi, 03 giàn C bán cho N mà N đã vứt đi, 09 giàn C bán cho M mà M đã bán và 35 giàn C đã bán không xác định được khối lượng thu lời tổng số tiền 31.500.000đ (ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, thực tế đối với lần Q bán pháo hoa nổ, pháo nổ cho C ngày 02/01/2024 tổng số tiền là 57.000.000đ, C mới trả cho Q số tiền 45.000.000đ, Q đã trả cho người đàn ông mà Q mua pháo số tiền 40.500.000đ. Như vậy Q hưởng lợi lần này là 4.500.000đ. Nên tổng số tiền Q hưởng lợi bán pháo hoa nổ, pháo nổ cho C là 27.500.000đ.
Từ khoảng đầu tháng 10/2023 đến 02/01/2024, tại tỉnh Lào Cai, C đã có hành vi mua pháo hoa nổ, pháo nổ của V Seo Quan và mua của một người đàn ông C không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Sau khi mua được pháo hoa nổ, pháo nổ, tại huyện C và huyện Y, tỉnh Phú Thọ, Phạm Hùng C đã có hành vi 02 lần bán pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo hiệu ứng màu sắc trong không gian), pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng nổ) cho Phạm Tiến M, 01 lần bán pháo hoa nổ cho Nguyễn Văn T1, 01 lần bán pháo hoa nổ cho Hoàng Văn N với tổng khối lượng 254,3kg và 03 giàn C bán cho N mà N đã vứt đi, 09 giàn C bán cho M mà M đã bán, 35 giàn C đã bán không xác định được khối lượngthu lời tổng số tiền 44.000.000đ (bốn mươi bốn triệu đồng), 01 lần vận chuyển với mục đích để bán 118,6kg pháo hoa nổ thì bị bắt quả tang.
Nguyễn Văn K biết việc C mua pháo hoa nổ, pháo nổ của Vàng Seo Quan để bán, tuy nhiên, K vận chuyển pháo nổ, pháo hoa nổ mà Phạm Hùng C mua của Vàng Seo Quan về huyện C và cùng C mang đi bán, K thu lời tổng số tiền 16.000.000đ (mười sáu triệu đồn) nên K đồng phạm với C về tội Buôn bán hàng cấm và phải chịu trách nhiệm về số pháo nổ, pháo hoa nổ mà C mua của V Seo Quan về để bán là 335kg (Trong đó có 93kg pháo hoa nổ; 25,6kg pháo nổ thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn K nêu trên).
Phạm Tiến M hai lần mua pháo hoa nổ, pháo nổ của Phạm Hùng C với tổng khối lượng là 196,6kg với mục đích để bán và 16 giàn pháo hoa nổ không xác định được khối lượng do M đã bán thu lời tổng số tiền 15.800.000đ.
Nguyễn Văn T1 tàng trữ 41 kg pháo hoa nổ với mục đích để sử dụng.
Hoàng Văn N có hành vi tàng trữ 14,6 kg pháo hoa nổ và 03 giàn pháo hoa nổ không xác định được khối lượng (do N đã vứt đi) với mục đích để sử dụng.
Về vai trò của các đồng phạm trong vụ án: Các bị cáo Phạm Hùng C, Vàng S, Phạm Tiến M là người trực tiếp thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm; Bị can Nguyễn Văn K không trực tiếp buôn bán hàng cấm, tuy nhiên K biết việc C mua hàng cấm là pháo hoa nổ, pháo nổ của Vàng Seo Quan để bán nhưng K vận chuyển pháo nổ, pháo hoa nổ mà Phạm Hùng C mua của Vàng Seo Quan về huyện C và cùng C mang đi bánnên K là đồng phạm cùng C về hành vi Buôn bán hàng cấm với vai trò giúp sức.
Các bị can Nguyễn Văn T1 và Hoàng Văn N là người trực tiếp thực hiện hành vi tàng trữ hàng cấm.
Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Phạm Tiến M phạm tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo. Ngoài ra, bị cáo Phạm Tiến M có ông ngoại là Phạm Văn V1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo cùng gia đình đã ủng hộ cho quỹ dịch bệnh C2 – 19 và ủng hộ xây dựng Camera an ninh của xã P nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án số: 65/2018/HSST ngày 30/11/2018 Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê xử phạt M 30 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 25.000.000đ, truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 80.450.000đ, án phí 200.000đ về tội Đánh bạc. M chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ ngày 15/7/2021, thi hành xong tiền phạt bổ sung, truy thu sung quỹ nhà nước ngày 25/8/2021, thi hành xong án phí ngày 30/11/2018. Do vậy tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt tù đối với bị cáo Phạm Tiến M với mức hình phạt 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới để bổ sung cho việc xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là bị cáo đã tích cực giúp đỡ Cơ quan điều tra triệt phá tội phạm có xác nhận của Công an thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai nên được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án số 49/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tiến M. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với bị cáo Phạm Tiến M.
[2] Điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tiến M phạm tội "Buôn bán hàng cấm".
Xử phạt bị cáo Phạm Tiến M 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 08/3/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Tiến M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Anh |
Bản án số 55/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 55/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Tiến M - Buôn bán hàng cấm
