Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Minh Hải;

Ông Lương Đông Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

tham gia phiên tòa: Ông Lộc Nam Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nông Văn T, sinh ngày 30 tháng 01 năm 1996, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị L; chưa có vợ, con; tiền án: Không, có 01 tiền sự; nhân thân: Theo quyết định số 44/QĐ-TA ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, ngày 28/6/2023 chấp hành xong chưa được xóa. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/5/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thanh H - Luật sư Thực hiện trợ giúp pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

- Bị hại: Hoàng Văn B, sinh năm 1984. Trú tại: thôn Q, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1978. Trú tại: thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Triệu Văn Đ, sinh năm 1985. Vắng mặt;
  2. Chị Chu Thị L1, sinh năm 1986. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1981. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/5/2024 Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận đơn trình báo của anh Hoàng Văn B về việc: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 01/5/2024 anh Hoàng Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (sirius) biển kiểm soát 12K5-8277 đi từ nhà tại thôn Q, xã T đến thôn N, xã T, huyện V rồi để xe ở lề đường (trước cổng nhà anh Lý Văn T1). Sau đó anh Hoàng Văn B đi lên nhà anh Lý Văn T1 để gửi máy cắt cỏ và ngồi chơi uống nước, được khoảng 20 phút sau quay lại, thì phát hiện xe đã bị mất trộm. Sau khi tiếp nhận đơn, ngày 08/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tạm giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K5-8277 do anh Nguyễn Văn S tự nguyện giao nộp và xác định được Nông Văn T, là người thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe mô tô của anh Hoàng Văn B và đem đi cầm cố lấy 1.000.000 (một triệu đồng) tại cửa hàng kinh doanh sửa chữa xe máy, dịch vụ cầm đồ do anh Nguyễn Văn S quản lý.

Ngày 08/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã yêu cầu định giá tài sản. Tại kết luận định giá tài sản số 08/KLĐG ngày 08/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận, chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (sirius), màu đen bạc, biển kiểm soát 12K5- 8277 có tổng giá trị còn lại của tài sản cần định giá đến thời điểm ngày 01/5/2024 là 3.000.000 (ba triệu đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 52/CT-VKSCL ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản, áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo trả lại tiền cầm cố xe, nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị trả lại cho anh Hoàng Văn B 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (sirius), biển kiểm soát 12K5- 8277 và 01 chìa khóa xe.

Về án phí: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến người bào chữa cho bị cáo Nông Văn T tại phiên tòa, nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo sinh sống ở vùng có kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội là do chủ sở hữu tài sản để sơ hở, bị cáo nảy sinh ý định phạm tội do bộc phát, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhất trí với mức án của Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không có tài sản gì, sinh sống ở vùng có kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung; bị cáo có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Đại diện Viện kiểm sát có tranh luận với người bào chữa, bị cáo trộm cắp tài sản có giá trị 3.000.000 (ba triệu đồng), nhân thân đã có tiền sự, bị cáo nhận thức được, nhưng vẫn cố ý thực hiện, người bào chữa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có căn cứ để xác định: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 01/5/2024, bị cáo Nông Văn T thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (sirius) màu đen bạc, biển kiểm soát 12K5-8277 dựng cạnh đường, tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Nông Văn T quan sát không thấy có ai trông coi, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi lén lút, lấy trộm tài sản của anh Hoàng Văn B, nhằm mục đích đem cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Qua định giá, trị giá tài sản còn lại là tổng trị giá 3.000.000 (ba triệu đồng). Do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có tiền để tiêu sài cá nhân, nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật, xe là phương tiện đi lại của người dân. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa giáo dục chung. Để có mức án thỏa đáng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự, theo quyết định số 44/QĐ-TA ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, ngày 28/6/2023 chấp hành xong quyết định (chưa được xóa), bị cáo là người có nhân thân không tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không đứng tên, sở hữu tài sản gì có giá trị (thể hiện tại kết quả xác minh). Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn S có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại anh Hoàng Văn B không có yêu cầu gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn S vắng mặt, tuy nhiên lời khai tại cơ quan điều tra anh Nguyễn Văn S không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền cầm cố xe 1.000.000 (một triệu đồng), là đã thể hiện từ bỏ quyền sở hữu theo quy định tại Điều 239 của Bộ luật dân sự. Nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (sirius) màu đen bạc, biển kiểm soát 12K5-8277, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định chủ sở hữu đăng ký xe là chị Chu Thị L1 mua thời điểm năm 2008, đến năm 2015 do không có nhu cầu sử dụng, chị Chu Thị L1 đã bán chiếc xe cho anh Hoàng Văn B, với giá tiền 11.500.000 (mười một triệu năm trăm nghìn đồng), nên trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K5-8277 cho anh Hoàng Văn B.

[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị mức án đối với bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, đề nghị các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo sinh sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhất trí với mức án, hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo của Viện kiểm sát đề nghị, cũng phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên miễn án phí hình sự cho bị cáo.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 292; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho anh Hoàng Văn B 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (sirius) màu đen bạc, biển kiểm soát 12K5-8277, số máy 5C63097691, số khung RLCS5C6308Y097691 kèm theo 01 (một) chìa khóa xe máy

(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/6/2024).

  1. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn T.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Bị hại; người có QL, NVLQ đến vụ án;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự h. Văn Lãng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Máy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger